vanban.org

Quyết định 02/2024/QĐ-TA

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 09/03/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung có quyền kháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "ĐỖ VĂN THƯƠNG"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2024/QĐ-TAHà Trung, ngày 19 tháng 03 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: ông Đào Văn N.

2. Thư ký phiên họp: bà Lê Thị Hằng.

Ngày 19 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/2024/QĐ-TA ngày 14 tháng 03 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Đỗ Văn T; sinh ngày 21/10/1993; số Căn cước công dân: 038093024905; cấp ngày: 09/01/2023; nơi cấp: Cục C về TTXH; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 8/12; nguyên quán: tiểu khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: tiểu khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: tiểu khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án: ngày 29/09/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 31/03/2018; ngày 22/04/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/09/2023; tiền sự: không. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: bà Lê Thị K - Đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Đại diện Viện kiểm sát: bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thụ lý số 02/2024/TLST-XLHC ngày 12 tháng 03 năm 2024, Đỗ Văn T đã có hành vi vi phạm như sau:

Đỗ Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2014, loại Heroin, hình thức sử dụng là hút. Ngày 29/09/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 31/03/2018; ngày 22/04/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/09/2023 nhưng chưa được xóa án tích.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/01/2024 của Trung tâm Y tế huyện H xác định Đỗ Văn T nghiện ma túy – tên chất ma túy: MOP) Heroin/Morphine. Cùng ngày, Đỗ Văn T đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và được cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 04/01/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, thời gian cai nghiện là 01 năm, kể từ ngày 03/01/2024 đến ngày 03/01/2025.

Theo kết quả xét nghiệm ngày 01/03/2024 của Trung tâm Y tế huyện H xác định Đỗ Văn T dương tính với H (MOP), thuốc lắc (MDMA/AMP), ma túy hồng phiến (MET).

Tại Bản tường trình đề ngày 01/03/2024, Đỗ Văn T trình bày: bản thân sử dụng ma túy, loại Heroin, hình thức sử dụng là hút, tần suất sử dụng là 03 lần/ tuần, thời điểm sử dụng ma túy từ năm 2014, lần cuối sử dụng ma túy là ngày 01/03/2024.

Ngày 01/03/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn H đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với Đỗ Văn T với lý do: trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng, bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy. Nên cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn H đã giao Đỗ Văn T cho bà Đỗ Thị L (mẹ đẻ của T) quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại Công văn số 38/CV-LĐTBXH ngày 11/03/2024 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H đề nghị Tòa án xem xét đưa Đỗ Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H khẳng định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T đã được lập đúng trình tự nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung phát biểu quan điểm: hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T được lập theo đúng trình tự, thủ tục và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Đỗ Văn T với thời hạn từ 21 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T đã đầy đủ và đúng theo quy định tại các điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tài liệu trong hồ sơ đề nghị đầy đủ theo quy định tại khoản 1 Điều 103, khoản 1 Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được thực hiện đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

2. Về tính chất, mức độ hành vi vi phạm: hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn T không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn T trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện đã vi phạm khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Đỗ Văn T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 13 tháng 11 năm 2020).

3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: Đỗ Văn T không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính.

4. Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung: đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H là có căn cứ nên được chấp nhận; mức đề nghị thời hạn áp dụng của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung đối với Đỗ Văn T cũng phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm nên cũng được chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 13 tháng 11 năm 2020); khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày công bố quyết định; Người bị áp dụng có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H và Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Cỡ chữ