- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VT TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2023/QĐST-VDS Ngày 12 tháng 4 năm 2023 V/v “Tuyên bố một người là đã chết” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VT - TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Thành Công
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhung– Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VT tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 81/2022/TLST- VDS ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-QĐPH ngày 03 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Th, sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn YT, xã BD, huyện VT, Vĩnh Phúc (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trần Thị Thu, sinh năm 1999
Địa chỉ: thôn Chùa, xã Vân Xuân, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2.1 Chị Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1978, (vắng mặt)
2.2 Anh Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1987, (vắng mặt)
2.3 Anh Nguyễn Văn Thơm, sinh năm 1991, (vắng mặt) Đều cư trú tại: Thôn YT, xã BD, huyện VT, Vĩnh Phúc
2.4 Chị Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1984, (vắng mặt) Nơi cư trú cuối cùng: Thôn YT, xã BD, VT, Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu việc dân sự và các lời khai tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu – chị Trần Thị Thu trình bày: Bà Th có chồng là ông Nguyễn Văn Triệu (đã chết), vợ chồng bà Th có 4 người con là: Chị Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1978; chị Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1984; anh Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1987 và anh Nguyễn Văn Thơm, sinh năm 1991, ngoài ra ông bà không còn người con riêng, con nuôi hợp pháp nào khác.
Khoảng tháng 8 năm 2013, chị Nguyễn Thị Th1 bỏ nhà đi biệt tích từ đó đến nay không trở về, khi đi chị Th1 đi một mình không có ai đi cùng. Từ nhỏ đến thời điểm bỏ đi, phản ứng của chị Th1 không được nhanh nhẹn như các bạn đồng trang lứa, có một chút vấn đề về thần kinh và chị chưa có chồng con. Trong thời gian từ thời điểm chị Th1 bỏ đi đến nay, gia đình bà Th không có ai còn liên lạc được với chị Th1 nữa. Gia đình bà Th và người dân xung quanh không ai nhìn thấy chị Th1 xuất hiện tại địa phương, cũng không có bất kỳ một tin tức nào về việc chị Th1 hiện đang ở đâu còn sống hay đã chết. Gia đình bà Th nghi chị Th1 đã chết vì gần 10 năm nay chị Th1 không liên lạc về gia đình, không về thăm gia đình.
Nay bà Th làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện VT giải quyết: Tuyên bố chị Nguyễn Thị Th1 là đã chết.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh, anh Nguyễn Văn Thiện, anh Nguyễn Văn Thơm vắng mặt, nhưng theo bản tự khai ngày 04/10/2022 trình bày: Chị Th1 sinh năm 1984 là người con thứ hai trong gia đình ông Triệu, bà Th. Từ tháng 8 năm 2013, chị Th1 bỏ đi biệt tích khỏi địa phương đến nay không có bất cứ một thông tin gì về chị Th1. Gia đình đã tìm kiếm chị Th1 ở nhiều nơi trong thời gian chị Th1 bỏ đi đến nay nhưng đều không có kết quả. Thời điểm chị Th1 bỏ đi, chị vẫn chưa lập gia đình, không có chồng con và có một chút vấn đề về thần kinh.
Các anh chị đều đồng ý với yêu cầu của bà Th, đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Th1 là đã chết. Do điều kiện công việc bận nên các anh chị đã có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên họp giải quyết của Tòa án.
Tại phiên họp quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện VT:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và thư ký Tòa án thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ việc: Đề nghị áp dụng Điều 391, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự; Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Th, tuyên bố chị Nguyễn Thị Th1 đã chết từ ngày 02/9/2018. Mặc dù bà Th là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định tạ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhưng bà Th có đơn xin tự nguyện nộp tạm ứng lệ phí do vậy bà Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân huyện VT nhận định:
Về thủ tục tố tụng dân sự: Bà Trần Thị Th (là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Th1) có đơn yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Th1 là đã chết; chị Th1 có nơi cư trú cuối cùng tại thôn YT, xã BD, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VT theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của chị Thanh, anh Thiện, anh Thơm đã có bản tự khai và có đơn xin vắng mặt phiên họp, vì vậy căn cứ vào Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt đối với chị Thanh, anh Thiện, anh Thơm.
. Về nội dung vụ việc: Ông Triệu và bà Th có 04 người con là chị Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1978; chị Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1984; anh Nguyễn Văn Thiện, sinh năm 1987 và anh Nguyễn Văn Thơm, sinh năm 1991. Từ tháng 8 năm 2013, chị Th1 bỏ đi khỏi nhà và địa phương đến nay không có bất kì thông tin gì về chị Th1. Gia đình và địa phương không ai biết thông tin xác thực chị Th1 ở đâu, còn sống hay đã chết.
. Tại biên bản xác minh ngày 26/12/2022, đại diện UBND xã BD, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc xác định: Chị Th1 có hộ khẩu thường trú tại xã BD và bỏ đi khỏi địa phương từ khoảng tháng 8 năm 2013 đến nay không báo gì chính quyền địa phương và cũng không có tin tức gì.
Người thân của chị Th1 là chị Thanh, anh Thiện, anh Thơm cũng xác định chị Th1 bỏ nhà đi biệt tích từ khoảng tháng 8 năm 2013 cho đến nay không có tin tức gì, sau khi chị Th1 bỏ đi gia đình đã liên lạc, tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về chị Th1.
. Xét thấy: Từ tháng 8 năm 2013, chị Th1 bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì. Ngày 04/10/2022, Tòa án nhân dân huyện VT thụ lý yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với yêu cầu của bà Th. Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 01/2022/QĐ-TBTK ngày 25/11/2022, đã đăng thông báo tìm kiếm chị Th1 theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến hết thời hạn đăng phát theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn không có thông tin xác thực việc chị Th1 còn sống hay đã chết. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự quy định “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”. Chị Th1 biệt tích từ tháng 8 năm 2013 đến nay gần 10 năm đi khỏi địa phương, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà Th, tuyên bố chị Th1 đã chết là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự; Điều 391của Bộ luật tố tụng dân sự. Do thời điểm chị Th1 bỏ đi là tháng 8 năm 2013, không xác định được cụ thể ngày nên Tòa án nhân dân huyện VT xác định ngày chết của chị Nguyễn Thị Th1 là ngày 02/9/2018. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Th1 đã chết được xác định và thực hiện theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Th là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí theo quy định tạ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật nhưng bà Th có đơn xin tự nguyện nộp tạm ứng lệ phí do vậy bà Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 27, Điều 391, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Th.
Tuyên bố chị Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1984, nơi cư trú cuối cùng: Thôn YT, xã BD, huyện VT, tỉnh Vĩnh Phúc đã chết từ ngày 02 tháng 9 năm 2018.
2. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, quan hệ về nhân thân của chị Nguyễn Thị Th1 được giải quyết như đối với một người đã chết; quan hệ tài sản của chị Th1 được giải quyết như đối với một người đã chết; tài sản của chị Th1 được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về lệ phí việc dân sự: Bà Trần Thị Th tự nguyện chịu 300.000đ lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Xác nhận bà Th đã nộp đủ tại biên lai số 0005622 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VT.
4. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, người liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện VT; - Chi cục THADS VT; - UBND xã BD; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP ĐỗThành Công |