vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Tuyên bố ông Danh M, sinh năm 1979, địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Minh Dũng A, xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên G. Ngày chết được xác định là ngày 04/11/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Trương Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH THƯỢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Số: 02/2023/QĐST-VDS
U Minh thượng, ngày 18 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, KIÊN GIANG

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Danh Hoàng

- Thư ký phiên họp: Bà Thị Thúy Kiều

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên họp: Ông Trần Ngọc Nhiều - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2022/TLST-VDS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2023/QĐST-VDS ngày 30 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Trương Thị M, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Minh Dũng A, xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên G.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 14/5/2021 và các lời khai tại Tòa án người yêu cầu bà Trương Thị M (sau đây gọi tắt là bà M) trình bày:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 03/11/2018 chồng bà M là ông Danh Mi (gọi tắt là ông Mi) là thuyền viên đi lao động trên tàu cá số: BT – 93986 - TS do cơ quan Đăng kiểm tàu cá, cấp tại Bến Tre ngày 20/01/2017 đang hoạt động khai thác thủy sản tại tọa độ 080 05’ N – 1070 04’ E thuộc vùng biển Vũng Tàu. Ông Mi không may bị tai nạn rơi xuống biển mất tích. Mặc dù, được các tàu cá trong khu vực và các cơ quan chức năng hỗ trợ tìm kiếm nhưng không thấy, sự việc được Đồn biên phòng Hàm Luông – BĐBP tỉnh Bến Tre xác nhận. Bà M yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Mi để bà làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm của ông Mi.

Trong quá trình giải quyết bà M đăng báo, nhắn tin tìm kiếm ông Mi trên các báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp gồm: Số 89 ngày 08/11/2022; số 90 ngày 11/11/2022; số 91 ngày 15/11/2022 trên báo Công lý và nhắn tin trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút đến 18 giờ các ngày 14,15,16/11/2022 nhưng vẫn không có tin tức của ông Minh.

Tại phiên họp bà M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Mi đã chết, để bà làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm của ông Mi theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự: Xét thấy việc Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số: 03/2022/QĐTA ngày 25/10/2022; nhắn tin tìm kiếm trên Báo công lý, Đài tiếng nói Việt Nam đối với ông Mi theo đúng quy định pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức của ông Mi. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà M, tuyên bố ông Mi là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, nhận định:

. Về nội dung yêu cầu: Bà Trương Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Danh Mi, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Minh Dũng A, xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên G.

. Xét nội dung yêu cầu của bà M: Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng phát biểu ý kiến: Đề nghị Toà án xem xét, chấp nhận theo đơn yêu cầu của bà M, tuyên bố một người là đã chết đối với ông Danh Mi, sinh năm 1979; địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Minh Dũng A, xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên G.

Theo xác nhận ngày 23/11/2018 của Đồn biên phòng Hàm Luông – BĐBP tỉnh Bến Tre thì ông Mi có đi lao động trên tàu cá số: BT – 93986 – TS, cụ thể: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03/11/2018, tại tọa độ 080 05’ N – 1070 04’ E thuộc vùng biển Vũng Tàu, ông Mi không may bị tai nạn rơi xuống biển mất tích. Sau đó, tàu cá trên đã tiến hành tìm kiếm nhiều ngày, đồng thời thông báo cho các tàu cá hoạt động cùng khu vực và cơ quan chức năng được biết để hỗ trợ tìm kiếm nhưng không tìm thấy ông Mi. Mặt khác, việc ông Mi đi tàu cá tại tỉnh Bến Tre và mất tích từ ngày 03/11/2018 cũng được Ủy ban nhân dân xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên G xác nhận là đúng. Từ đó, đến nay bà M đã sử dụng nhiều biện pháp để tìm kiếm nhưng vẫn không tin tức ông Mi. Bà M đã đăng báo nhắn tin tìm kiếm ông Mi trên các báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp gồm: Số 89 ngày 08/11/2022; số 90 ngày 11/11/2022; số 91 ngày 15/11/2022 trên báo Công lý và nhắn tin trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút đến 18 giờ các ngày 14,15,16/11/2022 nhưng vẫn không có tin tức của ông Mi. Do đó, việc bà M yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Danh Mi là có cơ sở chấp nhận.

Về xác nhận ngày chết của ông Danh Mi: Theo quy định điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “bị tai nạn mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống..”.

Như vậy, ông Mi bị tai nạn rơi xuống biển vào ngày 03/11/2018 đến ngày 03/11/2020 là 02 năm. Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án xác định ông Mi chết vào ngày 04/11/2020.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng là có căn cứ, Tòa án chấp nhận.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị M phải chịu lệ phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003372, ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, khoản 2 Điều 367 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

2. Tuyên bố ông Danh M, sinh năm 1979, địa chỉ cư trú cuối cùng ấp Minh Dũng A, xã Minh T, huyện U Minh Th, tỉnh Kiên G.

Ngày chết được xác định là ngày 04/11/2020.

3. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Danh Mi là đã chết:

3.1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

3.2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của người đó được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế.

3.3. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.

4. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trương Thị M phải chịu lệ phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003372, ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Bà M đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

5.1. Người yêu cầu có mặt phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

5.2. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ