vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T, chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi giữa ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H với anh Nguyễn Văn T sẽ chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật. Về lệ phí: Miễn lệ phí cho ông Nguyễn Văn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi chủa ông Lân, bà Hồi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T, chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:02/2023/QĐST-HNGĐKiến Xương, ngày 24 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v chấm dứt nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Phan Anh Tuấn.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự, thụ lý số 20/2023/TLST - VHNGĐ ngày 14/7/2023 về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc số 03/2023/QĐ-ST ngày 14/8/2023, giữa những người tham gia tố tụng sau:

+ Người yêu cầu:

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958 (có mặt)

- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1964 (có mặt)

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 (có mặt)

Đều có địa chỉ tại: thôn 3, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu ông Lân và bà Hồi trình bày: ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H do muốn nhận thêm con nên có nhận con nuôi là Nguyễn Văn T, sinh năm 2000, nơi cư trú: thôn 3, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (là con đẻ của ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị L, cư trú tại thôn 3, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình). Việc nhận nuôi con nuôi được sự đồng ý của bên cho làm con nuôi, bên nhận nuôi con nuôi và con nuôi, đã làm thủ tục tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Hòa theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó. Lý do hiện nay ông bà yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi do hiện nay con nuôi đã trưởng thành, khỏe mạnh và trên thực tế con nuôi đã trở với bố mẹ đẻ là ông T bà L sau khi làm con nuôi được 02 năm. Do không muốn có ràng buộc về mặt pháp luật đối với con nuôi và có sự đồng ý chấm dứt nuôi con nuôi của anh T và ông T bà L, ông bà đề nghị Tòa án tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông bà đối với anh Nguyễn Văn T.

* Người yêu cầu anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh được hai bác là ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H nhận làm con nuôi từ năm 2007 theo Quyết định số 20/QĐ- UBND ngày 27/8/2007 của Ủy ban nhân dân xã Vũ Hòa, huyện Kiến Xương. Việc nhận nuôi con nuôi khi đó đã được sự chấp thuận của bố mẹ đẻ anh là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L. Nay bố mẹ đẻ anh là ông T bà L muốn được nhận lại anh, bản thân anh cũng đã trưởng thành, được sự đồng ý của ông L bà H, anh đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc ông L bà H nhận anh là con nuôi.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết việc dân sự:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự trên.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý việc dân sự, người yêu cầu đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi 2010, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T, chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Lân bà Hồi đối với anh Nguyễn Văn T. Áp dụng khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Lân. Bà Hồi, anh Thanh phải chịu lệ phí việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương nhận định:

Về tố tụng: Người yêu cầu nộp đơn và thực hiện các thủ tục theo đúng quy định.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn Thanh yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông L bà H đối với anh T, nơi cư trú: thôn 3, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nên căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ của việc dân sự là: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương.

Về nội dung: Năm 2007, ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H nhận nuôi anh Nguyễn Văn T là con đẻ của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L làm con nuôi, các bên có làm hồ sơ nhận nuôi con nuôi và được Ủy ban nhân dân xã Vũ Hòa cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 20/QĐ- UBND ngày 27/8/2007 nên quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp và các bên đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Nay anh T đã trưởng thành, có nguyện vọng về ở với bố mẹ đẻ và thực tế sau khi làm con nuôi được 02 năm thì anh đã trở về sống với bố mẹ đẻ mình. Việc anh T mong muốn được trở về với bố mẹ đẻ được bố mẹ nuôi là ông L bà H đồng ý, ông L, bà H và anh T đã làm đơn đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Ðiều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình và Ðiều 25 của Luật Nuôi con nuôi. Do đó cần chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H với anh Nguyễn Văn T.

Về lệ phí: Căn cứ Ðiều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 12, khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Văn L là người cao tuổi, được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự; bà Phạm Thị H, anh Nguyễn Văn T phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 200.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 27 của Luật nuôi con nuôi; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 12, khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T, chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H đối với anh Nguyễn Văn T.

2. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi giữa ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị H với anh Nguyễn Văn T sẽ chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

3. Về lệ phí: Miễn lệ phí cho ông Nguyễn Văn L.

Bà Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn T mỗi người phải chịu 100.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng bà H và anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001936 ngày 14/7/2023. Trả lại bà H, anh Thanh 100.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn L, bà Phạm Thị H, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ