vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Phan Văn U.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Phan Văn U và chị Phan Bùi Trúc H. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ Út-Hương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Phan Văn U.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/QĐST-HNGĐTháp Mười, ngày 16 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Kim Oanh.

Thư ký phiên họp: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Phan Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 633/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan Văn U, sinh năm 1958. Địa chỉ: ấp 4, xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Bùi Trúc H, sinh năm 1987. Địa chỉ: khóm 1, thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông U, chị H có mặt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Ông Phan Văn U trình bày: Vào năm 1987, ông Phan Văn U cùng vợ là bà Lương Thị Kim Hết (chết năm 2021) có nhận chị Phan Bùi Trúc H làm con nuôi theo đúng thủ tục nhận nuôi con nuôi do pháp luật quy định. Đến năm 1990 ông U đi làm giấy khai sinh cho chị H. Kể từ năm 1987 vợ chồng ông U nuôi dưỡng, chăm sóc con gái nuôi đến khi trưởng thành. Nay do những người con ruột của ông U đã trưởng thành và không đồng ý để ông U nhận chị H làm con nuôi và trong gia đình cũng xảy ra mâu thuẫn, đồng thời chị H cũng đã trưởng thành và có nguyện vọng được nhận lại cha mẹ ruột của chị H.

Nay ông Phan Văn U làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Phan Văn U và chị Phan Bùi Trúc H.

- Chị Phan Bùi Trúc H trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông U về việc ông U có nhận chị H làm con nuôi vào năm 1990. Việc nhận nuôi con nuôi được ghi nhận trong sổ hộ tịch được lưu trữ tại Phòng tư pháp huyện Tháp Mười có thông tin tại trang số 13, số thứ tự 227, quyển số 01, đăng ký ngày 07 tháng 8 năm 1990 của bà Phan Bùi Trúc H, sinh ngày 10/7/1987, phần ghi chú của sổ hộ tịch có ghi thông tin nuôi con nuôi. Do những người con ruột của ông U đã trưởng thành và không đồng ý để ông U nhận chị H làm con nuôi và trong gia đình cũng xảy ra mâu thuẫn, đồng thời chị H cũng đã trưởng thành và có nguyện vọng được nhận lại cha mẹ ruột của chị H nên nay chị H thống nhất yêu cầu của ông U về việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa chị và ông U.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc giải quyết việc dân sự.

+ Về nội dung: Xét thấy việc ông Phan Văn U yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Phan Bùi Trúc H là có căn cứ chấp nhận. Bởi vì hiện nay chị H đã trưởng thành, có nguyện vọng nhận lại cha mẹ ruột, chị H cũng có văn bản trình bày đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông U và chị H. Đề nghị Hội đồng giải quyết việc dân sự áp dụng Điều 10, Điều 25 – Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010, tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Phan Văn U và chị Phan Bùi Trúc H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào nội dung đơn yêu cầu của ông Phan Văn U và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự thể hiện quan hệ pháp luật là “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”.

Về thẩm quyền giải quyết: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Bùi Trúc H, sinh năm 1987 có địa chỉ ở khóm 1, thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười quy định tại khoản 5, Điều 29, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Ông Phan Văn U yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với chị Phan Bùi Trúc H vì những người con ruột của ông U đã trưởng thành và không đồng ý để ông U nhận chị H làm con nuôi và trong gia đình cũng xảy ra mâu thuẫn. Chị H thừa nhận ông U có nhận chị làm con nuôi và có ghi nhận trong sổ hộ tịch tại Phòng tư pháp huyện Tháp Mười. Nay chị H đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi theo yêu cầu của ông U vì hiện nay chị H đã trưởng thành và có nguyện vọng được nhận lại cha mẹ ruột của chị H và do trong gia đình cũng xảy ra mâu thuẫn, những người con ruột của ông U đã trưởng thành và không đồng ý để ông U nhận chị H làm con nuôi.

Theo xác nhận ngày 14/8/2023 của Phòng Tư pháp huyện Tháp Mười thì việc nhận nuôi con nuôi của ông Phan Văn U và chị Phan Bùi Trúc H được ghi nhận trong sổ hộ tịch được lưu trữ tại Phòng tư pháp huyện Tháp Mười có thông tin tại trang số 13, số thứ tự 227, quyển số 01, đăng ký ngày 07 tháng 8 năm 1990 của bà Phan Bùi Trúc H, sinh ngày 10/7/1987, phần ghi chú của sổ hộ tịch có ghi thông tin nuôi con nuôi.

Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở xác định vào năm 1987 ông Phan Văn U có nhận chị Phan Bùi Trúc H làm con nuôi và việc nhận nuôi con nuôi được ghi nhận trong sổ hộ tịch được lưu trữ tại Phòng tư pháp huyện Tháp Mười có thông tin tại trang số 13, số thứ tự 227, quyển số 01, đăng ký ngày 07 tháng 8 năm 1990. Nay ông Phan Văn U yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Phan Bùi Trúc H và chị H đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi theo yêu cầu của ông U nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn U về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Phan Bùi Trúc H theo quy định tại Điều 10, Điều 25, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Phan Văn U và chị Phan Bùi Trúc H là phù hợp với nhận định của Hội đồng giải quyết việc dân sự nên chấp nhận.

Về lệ phí: Ông Phan Văn U phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng ông Phan Văn U là người cao tuổi nên được miễn theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5, Điều 29, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 10, Điều 25, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Phan Văn U.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Phan Văn U và chị Phan Bùi Trúc H.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Ông Phan Văn U là người cao tuổi nên được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.

Cỡ chữ