vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/02/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Tuyên bố anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Nguyễn Thị T là người giám hộ của anh Trần Văn L. Bà T có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/QĐST-DSTP. Cao Lãnh, ngày 13 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn

trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Châu Nữ Thu Hân.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên họp: Bà Phan Thị Thanh Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2022/TLST-VDS, ngày 08 tháng 12 năm 2022, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2023/QĐST-DS, ngày 30 tháng 01 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm a;

Địa chỉ: Số a, ấp b, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền, lợi ích liên quan:

1. Anh Trần Văn L, sinh năm ;

2. Chị Phạm Thị Cẩm L1, sinh năm ;

Cùng địa chỉ: Tổ b, ấp m, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bà Nguyễn Thị T, anh Trần Văn L và chị Phạm Thị Cẩm L1 có mặt tại phiên họp

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn yêu cầu và tại phiên họp, người yêu cầu bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 1983, anh L bị bệnh sốt xuất huyết, sau đó không còn khả năng nghe, nói như người bình thường, có dấu hiệu tâm thần, phải có người giám sát thường xuyên.

Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 302/2022/KLGĐYC ngày 23/9/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: Về y học: chậm phát triển tâm thần khác (F78-ICD10), về năng lực: anh L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Nay bà T là mẹ ruột của anh L yêu cầu Tòa án tuyên bố anh L là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi và công nhận bà T là người giám hộ cho anh L.

Lý do: Để bà T đại diện anh L thực hiện các giao dịch liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Tại phiên họp, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu chỉ định bà Nguyễn Thị T là người giám hộ cho ông Lợi.

- Theo đơn đồng thuận quyền giám hộ và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn L và chị Phạm Thị Cẩm L1 trình bày:

Anh Trần Văn L và chị Phạm Thị Cẩm L1 thống nhất việc bà T yêu cầu tuyên bố anh L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đồng ý việc bà T làm người giám hộ cho anh L.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về thủ tục: Trong quá trình thu thập chứng cứ, từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên họp, Thẩm phán đã tiến hành đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T, yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, và đề nghị chỉ định bà T làm người giám hộ cho anh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh nhận định:

Về tố tụng: Theo đơn yêu cầu, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Anh L cư trú tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39 và Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Về yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 302/2022/KLGĐYC ngày 23/9/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: Về năng lực, anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó căn cứ vào Điều 23 Bộ luật Dân sự, yêu cầu của bà T là có căn cứ chấp nhận.

Về việc chỉ định người giám hộ:

Tại phiên họp, bà T, anh L, chị L1 thống nhất bà T làm người giám hộ cho anh L. Theo Tờ tường trình ngày 06/01/2023 của bà Nguyễn Thị T được Ủy ban nhân dân xã Phong Mỹ xác nhận vào ngày 13/01/2023 và theo Biên bản xác minh ngày 13/01/2023 của Công an xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp là nơi cư trú của bà T thì bà có đạo đức, lối sống trong sạch, chấp hành tốt chính sách, pháp luật và chưa phát hiện vi phạm pháp luật. Do đó, căn cứ Điều 46, Điều 49, Điều 53 và Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chỉ định bà T làm Người giám hộ cho anh L.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp như đã phân tích trên nên chấp nhận.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng, nhưng bà T là người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí nên bà T được miễn lệ phí và được nhận lại tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 4, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 23, Điều 46, Điều 49, Điều 53 và Điều 54 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 4, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Tuyên bố anh Trần Văn L là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Chỉ định bà Nguyễn Thị T là người giám hộ của anh Trần Văn L. Bà T có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T được miễn lệ phí, bà T được nhận lại tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011846, ngày 05/12/202 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự đối với những quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ