vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tiến D. Tuyên bố chị Nguyễn Huyền T là đã chết kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Việc dân sự: ông D yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02 /2023/QĐST-DSĐông Triều, ngày 06 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Tuyên bố một người đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Phạm Khắc Tuyn.

Thư ký phiên họp: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: Ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 83/2022/TLST-VDS ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST-VDS ngày 20 tháng 02 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1971. Nơi cư trú: thôn Vi, xã H, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Huyền T, sinh năm 2000. Nơi cư trú cuối cùng: thôn L (nay là thôn V), xã H, huyện (nay là thị xã) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2. Bà Phùng Thị Lợi, sinh năm 1979. Nơi cư trú cuối cùng: thôn L (nay là thôn V), xã H, huyện (nay là thị xã) Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu ngày 31 tháng 8 năm 2022, bản tự khai và tại phiên họp ông Nguyễn Tiến D trình bày:

Ông kết hôn với bà Phùng Thị L vào năm 1999, sau khi kết hôn hai người về sinh sống tại thôn L (nay là thôn V), xã H, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, ông và bà L có một con chung là chị Nguyễn Huyền T, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2000. Do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên vào năm 2004 bà L đã dẫn theo chị T bỏ nhà ra đi. Vào năm 2015 ông D đã có đơn yêu cầu, sau đó Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều đã có Quyết định tuyên bố bà Phùng Thị L mất tích. Mặc dù ông D và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đến nay đã hơn 18 năm vẫn không có tin tức gì của chị T và bà L.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông D đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Huyền T là đã chết.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều phát biều quan điểm giải quyết việc dân sự như sau:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 367 đến Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết việc dân sự: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, đề nghị Thẩm phán giải quyết chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tiến D, tuyên bố chị Nguyễn Huyền T là đã chết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự;

Căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều nhận định:

Chị Nguyễn Huyền T là con của ông Nguyễn Tiến D và bà Phùng Thị L, vào khoảng năm 2004 do mâu thuẫn gia đình nên bà L đã đưa chị T đi khỏi nơi cư trú, kể từ đó đến nay gia đình và người thân không có tin tức gì của chị T.

Ngày 01tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Sau đó, ông Nguyễn Tiến D đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Huyền T trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng thông tin tìm kiếm đầu tiên, nhưng vẫn không có thông tin gì về chị Nguyễn Huyền T.

Nội dung xác minh đối với ông Phùng Văn T (anh trai bà L, bác của chị T) thể hiện: vào năm 1999 bà Phùng Thị L kết hôn với ông Nguyễn Tiến D rồi về sinh sống tại thôn V, xã H, huyện (nay là thị xã) Đông Triều. Quá trình chung sống bà L và ông D có một con chung tên là Nguyễn Huyền T, sinh năm 2000. Do mâu thuẫn vợ chồng nên bà L và chị T đã bỏ nhà ra đi từ khoảng năm 2004, từ đó đến nay đã hơn 18 năm, gia đình và người thân đã nhiều lần tìm kiếm nhưng đều không có thông tin gì về bà L và chị T.

Tại đơn đề ngày 25 tháng 8 năm 2022 của ông Nguyễn Tiến D (có xác nhận của Công an xã H) thể hiện: chị Nguyễn Huyền T là con gái của ông Nguyễn Tiến D và bà Phùng Thị L. Vào khoảng năm 2004 bà L cùng với con gái là Nguyễn Huyền T bỏ đi khỏi địa phương không rõ lý do. Từ đó đến nay, địa phương không có tin tức gì về hai mẹ con, không biết đi đâu, làm gì. Hiện nay, chị Nguyễn Huyền T không có mặt ở địa phương.

Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định:

Chị Nguyễn Huyền T đã biệt tích khỏi nơi cư trú từ năm 2004. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra Quyết định tuyện bố một người là đã chết trong trường hợp người đố biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực còn sống.

Do chỉ có căn cứ xác định chị T đi khỏi nhà từ khoảng năm 2004 mà không xác định được ngày, tháng cụ thể, nên Tòa án xác định ngày biết tin tức cuối cùng của chị T là ngày đầu tiên của năm 2005 (tức ngày 01 tháng 01 năm 2005). Ngày cuối cùng để xác định mốc thời hạn 05 năm kể từ ngày biết tin tức cuối cùng của chị T là ngày 01 tháng 01 năm 2005.

Kể từ khi chị T biệt tích đến nay đã hơn 18 năm liền, ông D và những người thân của chị T đã thực hiện các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định nhưng vẫn không có tin tức gì về chị T. Vì vậy, cần căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Tiến D về việc đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Huyền T là đã chết. Thời điểm xác định chị T đã chết là ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tiến D phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;

- Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tiến D.

Tuyên bố chị Nguyễn Huyền T là đã chết kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố chị Nguyễn Huyền T là đã chết:

- Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của chị Nguyễn Huyền T được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của chị Nguyễn Huyền T được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Nguyễn Huyền T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí: Ông Nguyễn Tiến D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm ngìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009722 ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Ông Nguyễn Tiến D đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định./.

Cỡ chữ