vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 15/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị A, về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết.

Tuyên bố cụ Đặng Thị Th, sinh năm 1934; Nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, đã chết kể từ ngày 01/01/1969. Khi Quyết định của Toà án tuyên bố cụ Đặng Thị Th đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân và gia đình và quan hệ nhân thân khác của cụ Th được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị A, về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/QĐDS-ST
Ngày: 15/5/2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm:

Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thúy Hà - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Tạ Ngọc Nam – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 51/2022/TLST-DS, ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc “Tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp số 06/2023/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2023.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đoàn Thị A, sinh năm 1965; HKTT: thôn Ph, xã Nh, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Hiện trú tại: đường N, thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt - có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt”.

2. Người bị yêu cầu: cụ Đặng Thị Th, sinh năm 1934; Nơi cư trú cuối tại thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đoàn Thị Ph, sinh năm 1961; HKTT: đội 1 thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt - có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt”.

- Ông Đoàn Văn L, sinh năm 1962; HKTT: số 2 hẻm 366/36/4 đường Ngọc L, phường Ngọc L, quận LB, thành phố Hà Nội “vắng mặt - có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt”.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Người yêu cầu là bà Đoàn Thị A trình bày: Bố mẹ bà Đoàn Thị A là cụ Đoàn Văn T, sinh năm 1929 và Đặng Thị Th, sinh năm 1934, cụ T đã mất ngày 12/6/2012, cụ Th hiện nay không biết ở đâu. Sinh thời, cụ T và cụ Th sinh được 03 người con lần lượt là: Đoàn Thị Ph, Đoàn Văn L và Đoàn Thị A, không có con nuôi, con riêng. Khi còn nhỏ, các anh chị em sống với bố mẹ và ông bà nội (ông bà nội đều đã chết) tại thôn Đ, xã Tr, huyện T, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên). Khi trưởng thành, bà A được bố và họ hàng kể lại năm 1968 không biết nguyên nhân gì dẫn đến nhà bị cháy. Sau khi nhà bị cháy, cụ Đặng Thị Th bỏ nhà đi, gia đình không biết cụ Th đi đâu, làm gì. Anh chị em trong gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có thông tin. Nay để đảm bảo quyền lợi của gia đình theo quy định của pháp luật. Bà A đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tuyên bố mẹ bà là cụ Đặng Thị Th, sinh năm 1934; nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đã chết. Bà A không đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị Ph và ông Đoàn Văn L: đều trình bày giống như quan điểm của bà Đoàn Thị Ph.

Để làm rõ nội dung nêu trên Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã tiến hành xác minh tại xã Trung Nghĩa, cụ thể như sau:

Ông Phạm Văn T, Trưởng thôn Đặng Cầu, xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên trình bày: cụ Đặng Thị Th là vợ cụ Đoàn Văn T, hiện nay cụ T đã chết. Năm 1968, sau khi nhà bị cháy, cụ Th đã bỏ đi, từ khi cụ Th bỏ đi đến nay vẫn chưa trở về.

Công an xã Trung Nghĩa cung cấp: cụ Đặng Thị Th có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đ, xã Tr, huyện T, tỉnh Hưng Yên, xác nhận cụ Th không có mặt ở địa phương nhiều năm, không có tin tức.

Tại phiên họp hôm nay:

Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên. Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên phát biểu quan điểm. Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ việc đúng thảm quyền; xác định đúng yêu cầu, tư cách đương sự; giải quyết việc dân sự đúng thời hạn. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Khoản 2 Điều 180, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị A yêu cầu tuyên bố cụ Đặng Thị Th là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Đoàn Thị A là con gái ruột của cụ Đặng Thị Th, do cụ Th đã bỏ nhà đi từ năm 1968 đến nay không có tin tức ở đâu, làm gì nên bà A đã làm đơn yêu cầu tuyên bố cụ Đăng Thị Th là đã chết. Trước khi bỏ đi cụ Đặng Thị Th có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đ, xã Tr, huyện T, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên) nên Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã tiến hành thụ lý và giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .

[2] Về nội dung:

[2.1]. Căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và Công an xã Trung Nghĩa thành phố Hưng Yên như đã nêu ở phần Nội dung vụ việc của Quyết định. Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên đã ban hành Quyết định số 01/2022/QĐ-TB ngày 28/11/2022 về việc thông báo tìm kiếm một người bị tuyên bố là đã chết đối với cụ Đặng Thị Th và đã đăng trên báo Công Lý 03 (ba) số liên tiếp gồm các số 97, số 98, số 99 phát hành vào các ngày 07, 09, 14/12/2022 và được phát sóng trên Đài quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOVAMS) tại Hà Nội vào khung giờ 17 giờ 30 phút các ngày 15, 16, 17/12/2022, đồng thời đăng phát trên cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên vào ngày 29/11/2022. Đến nay đã hết thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên là ngày 07/12/2022 nhưng việc tìm kiếm thông tin của cụ Đặng Thị Th vẫn không có kết quả, không có tin tức về cụ Đặng Thị Th hiện nay còn sống hay đã chết.

[2.2]. Kể từ ngày biết được tin tức cuối cùng của cụ Đặng Thị Th là năm 1968 đến nay, cụ Đặng Thị Th đã đi biệt tích khỏi địa phương đã 55 năm. Do vậy, đã đủ điều kiện tuyên bố cụ Đặng Thị Th đã chết theo điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự: “Biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”.

[2.3]. Từ những phân tích nêu trên, thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị A về việc “Yêu cầu tuyên bố cụ Đặng Thị Th đã chết”

[2.4]. Do đương sự trong vụ án không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của năm 1968 khi cụ Th biệt tích nên căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, thời điểm xác định ngày chết của cụ Th được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng, tức ngày 01/01/1969.

[2.5]. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự.

[3] Về lệ phí: Bà Đoàn Thị A phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Khoản 2 Điều 180, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị A, về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết.

2. Tuyên bố cụ Đặng Thị Th, sinh năm 1934; Nơi cư trú cuối cùng tại thôn Đặng C, xã Tr, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, đã chết kể từ ngày 01/01/1969.

Khi Quyết định của Toà án tuyên bố cụ Đặng Thị Th đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân và gia đình và quan hệ nhân thân khác của cụ Th được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của cụ Th được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của cụ Th được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Đoàn Thị A phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà bà A đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0001335 ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên. Bà Đoàn Thị A đã nộp đủ tiền lệ phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định.

Cỡ chữ