- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Lê Văn B yêu cầu tuyên bố ông Lê L là người MNLHVDS"
- Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST -VDS | Đồng Hới, ngày 14 tháng 02 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tú Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 110/2021/TLST-VDS ngày 11 tháng 11 năm 2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2022/QĐST-VDS ngày 06 tháng 01 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Lê Văn B, sinh năm 1965
Địa chỉ: Số A đường L, Tổ dân phố X, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
2. Ông Lê Thăng L, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số F đường A, khu phố K, phường T, thành phố T, thành phố H. Vắng mặt.
3. Bà Lê Thị H, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số C, đường C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
4. Bà Lê Thị S, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số L, đường 3, khu phố N, phường C, Quận S, thành phố T, thành phố H. Vắng mặt.
5. Bà Lê Thị Thủy, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu đề ngày 11/11/2021, được bổ sung tại bản tự khai, buổi giám định và tại phiên họp, người yêu cầu là ông Lê Văn B trình bày: Gia đình ông B có 06 anh chị em gồm: Anh cả Lê Thăng L, sinh năm: 1962; Ông Lê Văn B, sinh năm 1965; Bà Lê Thị H, sinh năm: 1967; Bà Lê Thị S, sinh năm: 1971; Bà Lê Thị T, sinh năm 1973 và em út là ông Lê L, sinh năm 1976. Trong số 06 anh chị em thì có em út Lê L, sinh năm 1976 từ khi sinh ra đã có dấu hiệu không được bình thường. Năm 1994, ông Lê L bắt đầu phát bệnh và chuyển biến nặng nên đến ngày 15/9/1995 được đưa vào nuôi dưỡng tại Trại tâm thần phường Kim Long, thành phố Huế. Từ tháng 11/2018 đến nay, ông Lê L được chuyển về chữa trị tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Quảng Bình theo Quyết định số 97/QĐ-TTCS&PHCNNTT ngày 01/11/2018 của Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Quảng Bình. Nay ông Biên đề nghị tuyên bố ông L mất năng lực hành vi dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các ông, bà Lê Thăng L, Lê Thị H, Lê Thị S và Lê Thị T cùng khai: Bố mẹ ông, bà là ông Lê N và bà Nguyễn Thị M sinh được 06 người con. Trong số 06 anh chị em thì có em út Lê L, sinh năm 1976 từ khi sinh ra đã có dấu hiệu không được bình thường. Bắt đầu phát bệnh và được đưa vào nuôi dưỡng tại Trại tâm thần phường Kim Long, thành phố Huế từ ngày 15/9/1995. Từ tháng 11/2018 đến nay được chuyển về chữa trị tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Quảng Bình đúng như ông Biên đã trình bày. Do đó ông Lê Văn B làm đơn yêu cầu tuyên bố ông Lê L là người mất năng lực hành vi dân sự thì ông L, bà H, bà S và bà T đều đồng ý.
Tại Kết luận Giám định Pháp y tâm thần số 23/KLGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận ông Lê L mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.
Ý kiến của Viện kiểm sát viên tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 366, Điều 377 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành các thủ tục đúng theo quy định của Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã làm bản tự khai, đơn xin vắng mặt cũng như việc tham gia phiên họp đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ theo đơn yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của ông Lê Văn B, các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự, lời khai đương sự và căn cứ theo Kết luận Giám định Pháp y tâm thần số 23/KLGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận tại thời điểm hiện tại ông Lê L: Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.05); Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn B. Đề nghị Tòa án tuyên bố ông Lê L mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Điều 369, 370, 376, 377, 378 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 22, 53 Bộ luật dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự ông Lê Văn B được miễn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ông Lê Văn B có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê L, sinh năm: 1976. Đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình là người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, quan hệ pháp luật của việc dân sự được xác định là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” và Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi ra thông báo thụ lý vụ việc đã gửi cho các bên đương sự kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án để làm bản tự khai. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn, thấy cần trưng cầu giám định theo luật định nên Tòa án ra Quyết định trưng cầu giám định. Khi có kết luận giám định, Tòa án ra Quyết định mở phiên họp và ấn định thời gian mở phiên họp đảm bảo thời hạn tại Điều 366 BLTTDS. Đồng thời đã chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng thời gian. Tại phiên họp, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 367 BLTTDS tiến hành phiên họp theo tố tụng.
Về nội dung:
. Ông Lê L từ khi sinh ra đã có những biểu hiện không được bình thường. Đến năm 1994 bắt đầu phát bệnh và chuyển biến nặng phải chuyển vào chữa trị tại Trại tâm thần phường Kim Long, thành phố Huế. Từ tháng 11/2018 đến nay, ông Lê L là đối tượng chữa trị tại Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Quảng Bình theo Quyết định số 97/QĐ-TTCS&PHCNNTT ngày 01/11/2018 của Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Quảng Bình.
. Qua giải quyết vụ án, Toà án đã ra quyết định trưng cầu giám định bệnh tật đối với ông Lê L tại Quyết định trưng cầu giám định số: 08/2021/QĐ-TA ngày 25/11/2021, Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Miền Trung có kết luận Giám định Pháp y tâm thần số: 23/KLGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022, kết luận ông Lê L: Về mặt y học: Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.05); Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố ông L mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, ông B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông L mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
. Trong quá trình giải quyết việc dân sự ông L không nhận thức được hành vi của mình nên không có ý kiến gì.
Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn B là thân nhân của liệt sĩ và có làm đơn xin miễn nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐINH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, Điều 149, 361, 367, 370, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22, 53 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Văn B về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Tuyên bố: Ông Lê L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, là người mất năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự ông Lê L phải theo quy định của pháp luật (Điều 22, 53 BLDS).
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu ông Lê Văn B không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt có quyền làm đơn kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn được tính từ ngày nhận được Quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND TP. Đồng Hới; - Chi cục THADS TP. Đồng Hới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Hoàng Thị Thanh Nhàn |