vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị B.

Tuyên bố anh Bùi Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị là người “Mất năng lực hành vi dân sự”. Các giao dịch dân sự phát sinh có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông Bùi Văn T sẻ do người giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật của ông Bùi Văn T xác lập, thực hiện th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Pham Thị B yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDSHải Lăng, ngày 11 tháng 03 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đức Hoan.

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Kim Hưng - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Phúc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-VDS ngày 10 tháng 01 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST-VDS ngày 01 tháng 3 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây;

- Người yêu cầu: Chị Phạm Thị B, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Bùi Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

+ Ông Bùi Văn S (T), sinh năm 1937; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

+ Anh Bùi Văn C, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 01/12/2021 của chị Phạm Thí B và các tài liệu có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự và ý kiến tại phiên họp như sau:

Từ năm 2000, Anh Bùi Văn T, sinh ngày 01/6/1969 (chồng của chị B) đã bị bệnh tâm thần và nhiều lần đi khám chữa nhiều nơi. Năm 2006 anh T vào điều trị tại bệnh viện tâm thần Đ, trong quá trình điều trị đến năm 2008 cho xuất viện điều trị ngoại trú. Năm 2010, thì bệnh tái phát hay đi lang thang quậy phá, đến năm 2013 được Công an T đưa vào trại tâm thần Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh T tại xã T, thị xã H, tỉnh T. Đến năm 2018 được đưa ra điều trị tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh tại xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 243/KLGĐ ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y khu vực miền Trung kết luận tình trạng của anh T như sau:

+ Về y học: Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5)

+ Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự

Chị Phạm Thị B yêu cầu Toà án tuyên bố anh Bùi Văn T là người mất năng lực hành vi dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Văn S (T) và anh Bùi Văn C đều có đơn xin giải quyết vắng mặt, đồng thời có ý kiến: Đồng ý với tất cả các ý kiến của chị Phạm Thị B.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền và tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng.

- Về nội dung: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị B về tuyên bố anh Bùi Văn T là người mất năng lực hành vi dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị B phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị nhận định:

Về thủ tục tố tụng: chị Phạm Thị B yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Bùi Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị mất năng lực hành vi dân sự, đây là yêu cầu về việc dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên họp hôm nay: Ông Bùi Văn S (T) và anh Bùi Văn C có đơn xin giải quyết vắng mặt và đồng ý với tất cả các ý kiến của chị Phạm Thị B. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung: Đối với yêu cầu tuyên bố anh Bùi Văn T, sinh năm 1969 là người mất năng lực hành vi dân sự: Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 243/KLGĐYC ngày 28/02/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực miền trung đã kết luận: Về y học: Tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5); Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự

Đủ cơ sở để khẳng định anh Bùi Văn T: “mất năng lực hành vi dân sự” theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự.

Xét lời trình bày của chị Phạm Thị B, sinh năm 1969 là phù hợp với kết luận giám định pháp y tâm thần số 243/KLGĐYC ngày 28/02/2022 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực miền trung.

Như vậy có đủ cơ sở xác định anh Bùi văn T, sinh năm 1969 mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự. Do đó, yêu cầu của chị Phạm Thị B là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Phạm Thị B phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, điểm d khoản 2 Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị B.

Tuyên bố anh Bùi Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị là người “Mất năng lực hành vi dân sự”.

Các giao dịch dân sự phát sinh có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông Bùi Văn T sẻ do người giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật của ông Bùi Văn T xác lập, thực hiện theo quy định pháp luật

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số CC/2021/0000027 ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Chị Phạm Thị B đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị B phải chịu 1.233.800 đồng chi phí giám định. Chị Phạm Thị B đã nộp đủ chi phí tố tụng.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Phạm Thị B có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ