- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "NTC"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Anh NBYC, sinh năm 1965; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Số A, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng là đã chết.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST-VDS | Hồng Bàng, ngày 23 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2022/TLST-VDS ngày 19 tháng 01 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà NTC, sinh năm 1944; nơi cư trú: Số A, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bị yêu cầu: Anh NBYC, sinh năm 1965; nơi cư trú cuối cùng: Số C, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 06-01-2022 về việc tuyên bố một người là đã chết, bản tự khai ngày 20-01-2022, người yêu cầu bà NTC trình bày: Bà NTC và ông E, sinh năm 1940 (đã chết năm 2005) là vợ chồng hợp pháp và có sinh được 04 (bốn) người con chung, gồm: Anh NBYC, sinh năm 1965; chị F, sinh năm 1971; anh G, sinh năm 1973 và anh H, sinh năm 1976. Anh NBYC (sinh năm 1965; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà C, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng) đã bỏ nhà đi từ năm 1996 đến nay không về. Kể từ khi anh NBYC bỏ nhà đi, gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về anh NBYC, không biết anh NBYC ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Năm 2016, gia đình bà NTC (cụ thể là anh G) đã thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố anh NBYC mất. Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng đã ra Quyết định số 02/2016/QĐST-VDS ngày 06-9-2016 (sau đây viết tắt là Quyết định số 02 ngày 06-9-2016) về việc chấp nhận đơn yêu cầu của anh G và tuyên bố: Anh NBYC, sinh năm 1965; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà C, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng mất tích. Từ đó đến nay đã quá 03 (ba) năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng gia đình bà NTC không có tin tức nào xác thực anh NBYC còn sống. Bà NTC và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi và Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng đã áp dụng biện pháp đăng tin tìm kiếm anh NBYC trên Đài tiếng nói Việt Nam trong ba ngày liên tiếp vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 26,27 và 28-01-2022; đăng Báo Nhân Dân trong ba số liên tiếp các ngày 27, 28 và 29-01-2021; Thông báo trên Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng ngày 25-01-2022 và trên Trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng ngày 17-02-2022, tính đến nay là hơn 04 (bốn) tháng nhưng vẫn không có tin tức gì về anh NBYC và anh NBYC cũng không liên lạc gì với bà và gia đình. Đến nay, anh NBYC đã biệt tích 05 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc còn sống hoặc đã chết. Vì vậy, bà NTC có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh NBYC là đã chết.
Tại phiên họp, bà NTC vẫn giữ nguyên phần trình bày như trên và yêu cầu Tòa án tuyên bố anh NBYC là đã chết.
Về lệ phí: Bà NTC là người cao tuổi nên đề nghị được miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng phát biểu ý kiến: Anh NBYC biệt tích nhiều năm và không có thông tin gì. Do vậy, đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 391 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận yêu cầu của bà NTC tuyên bố anh NBYC là đã chết. Ngày chết của anh NBYC được tính từ ngày sau ba năm Quyết định số 02 ngày 06-9-2016 có hiệu lực pháp luật, cụ thể là ngày 01-10-2019.
Về lệ phí: Bà NTC là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng và lệ phí dân sự sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng nhận định:
Về thẩm quyền: Người bị yêu cầu là anh NBYC có đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại số A, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự tuyên bố anh NBYC là đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Về nội dung: Bà NTC là mẹ đẻ của anh NBYC. Năm 1996, anh NBYC đã bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì. Năm 2016, anh G (là anh trai của anh NBYC và là con trai của bà NTC) đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh NBYC mất tích. Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng đã ra Quyết định số 02 ngày 06-9-2016 về việc tuyên bố anh NBYC mất tích. Từ đó đến nay đã quá 03 (ba) năm nhưng bà NTC và gia đình hoàn toàn không có tin tức nào xác thực việc anh NBYC còn sống.
Quá trình thụ lý và giải quyết việc dân sự theo đơn đề nghị của người yêu cầu giải quyết việc dân sự Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định pháp luật nhưng vẫn không có bất cứ thông tin phản hồi gì về anh NBYC. Do vậy, việc bà NTC yêu cầu Tòa án tuyên bố anh NBYC đã chết là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự và Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên chấp nhận.
Về xác định ngày chết của anh NBYC theo sự kiện pháp lý: Quyết định số 02 ngày 06-9-2016 được tiến hành niêm yết với thời hạn 15 ngày theo quy định của pháp luật vào ngày 15-9-2016. Tính đến ngày ngày 01-10-2016 thì Quyết định số 02 ngày 06-9-2016 có hiệu lực pháp luật. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự thì cần xác định ngày chết của anh NBYC là sau ba năm kể từ ngày quyết định số 02 ngày 06-9-2016 có hiệu lực pháp luật (ngày 01-10-2016), cụ thể là ngày 01-10-2019.
Về lệ phí: Bà NTC là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng và lệ phí dân sự sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 và các điều 361, 367, 370, 371, 372, 391, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Anh NBYC, sinh năm 1965; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Số A, phường B, quận D, thành phố Hải Phòng là đã chết. Ngày chết của anh NBYC được tính từ ngày 01-10-2019.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố anh NBYC là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của anh NBYC được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của anh NBYC được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của anh NBYC được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà NTC là người cao tuổi nên được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - UBND phường B, quận D; - Lưu: VT, hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Quang Kiên |