- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Đỗ Thị C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST- VDS | Hoa Lư, ngày 07 tháng 10 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết)
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên họp: Bà Giang Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tiến hành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2022/TLST- VDS ngày 27 tháng 4 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST-VDS ngày 27 tháng 9 năm 2022, thông báo thay đổi lịch giải quyết việc dân sự số 162 ngày 29 tháng 9 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Đỗ Thị C, sinh năm 1951; trú tại: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Tạ Thị Nh, sinh năm 1979, vắng mặt;
+ Anh Tạ Đinh Đ, sinh năm 1983, vắng mặt;
+ Anh Tạ Văn Th, sinh năm 1988, vắng mặt;
Đều trú tại: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp bà Đỗ Thị C trình bày: Bà và ông Tạ Hữu Đ kết hôn với nhau năm 1978, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, ông bà mua nhà và chung sống với nhau tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, ông Đ không đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú ở xã N, huyện H. Vợ chồng chung sống bình thường đến năm 1988, khi bà đang mang thai người con thứ 3 thì ông Đ bỏ đi không nói gì với bà và gia đình. Từ đó đến nay, bà và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm ông Đ nhưng không có tin tức gì, không ai biết hiện nay ông Đ ở đâu, còn sống hay đã chết.
Bố mẹ ông Đ chết khi ông Đ còn nhỏ (tên tuổi bà cũng không biết vì chưa nghe ông Đ nói và bản thân ông Đ cũng không biết ngày mất của bố mẹ ông), ông Đ lấy bà là do cô ruột ông Đ (cô ông Đ đã chết cũng lưu lạc về xã N sinh sống nên giới thiệu bà với ông Đ. Vì vậy, từ khi ông Đ và bà kết hôn với nhau, bà cũng chưa về quê ông Đ bao giờ, chỉ nghe nói quê ông ở thôn M, xã Th, huyện T, thành phố Hà Nội. Bà cũng không thấy ông Đ có giấy tờ cá nhân gì. Hiện bà chỉ còn giữ Giấy công nhận kết hôn giữa bà và ông Đ do UBND xã N cấp năm 1978. Trong giấy công nhận kết hôn ghi ông Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943, nghề nghiệp của ông Đ là công nhân, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú là trường hóa chất Lâm Thao Vĩnh Phú. Do ông Đ đã bặt tin quá lâu, để ổn định cuộc sống của bà và các con, bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư tuyên bố ông Tạ Hữu Đ là đã chết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tạ Thị Nh, anh Tạ Đình Đ và anh Tạ Văn Th trình bày nội dung đúng như bà C đã trình bày và có cùng quan điểm đề nghị Tòa án tuyên bố ông Tạ Hữu Đ là đã chết.
Quá trình Tòa án xác minh, Công an xã N cung cấp: từ trước đến nay tại xã N không có nhân khẩu nào mang tên Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943, cũng không có ai tên Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943 đăng ký tạm trú. Ủy ban nhân dân xã cung cấp: bà Đỗ Thị C, sinh năm 1951 và ông Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N năm 1978, chung sống với nhau tại thôn Đ, xã N đến khoảng năm 1988 thì ông Đ đi khỏi địa phương cho đến nay, không ai biết tin tức gì về ông Đ. Công an xã Th, huyện T, thành phố Hà Nội cung cấp: Qua điều tra sổ sách về nhân khẩu của xã không có nhân khẩu nào mang tên Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943 và tại thời điểm hiện tại cũng không có ai tên Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943 sinh sống trên điạ bàn xã T.
Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại trường Cao Đẳng Công Nghiệp Hóa Chất có địa chỉ tại Khu 4, thị Trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.và trường Đại Học Công Nghiệp Việt Trì, địa chỉ tại số 9, đường Tiên Sơn, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nội dung xác minh thể hiện từ trước đến nay trên địa bàn không có trường nào là trường Hóa chất Lâm Thao Vĩnh Phú. Hiện trên địa bàn có 2 trường hóa chất là trường Cao Đẳng Công Nghiệp Hóa Chất và trường Đại Học Công Nghiệp Việt Trì. Qua rà soát hồ sơ lưu trữ thì không có cán bộ, công nhân viên nào của cả 02 trường có tên Tạ Hữu Đ kể từ khi thành lập trường cho đến nay.
Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư quyết định thông báo tìm kiếm ông Tạ Hữu Đ trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử của Tòa án, cổng thông tin điện tử của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình theo quy định nhưng hết thời hạn 4 tháng cũng không có tin tức gì của ông Đ.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà C, tuyên bố ông Đ là đã chết, ngày chết của ông Đ là ngày 01 tháng 01 năm 1994. Về quan hệ nhân thân, tài sản của ông Đ được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của ông Đ được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế. Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Qua trình bày của các đương sự và kết quả xác minh của tòa án không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú cũng như tạm trú của ông Tạ Hữu Đ. Trước khi biệt tích, ông Đ thường xuyên sinh sống ở thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Do đó, cần xác định đây là nơi cư trú cuối cùng của ông Đ. Căn cứ khoản 4 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, yêu cầu của bà Cánh về việc tuyên bố ông Đ là đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư.
Về việc vắng mặt của đương sự: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tòa án tống đạt Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, giấy triệu tập đến phiên họp theo quy định nhưng vắng mặt tại phiên họp, đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung yêu cầu của bà Đỗ Thị C: Lời khai của người yêu cầu, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết quả xác minh của Tòa án và kết quả thông báo tìm kiếm ông Đ trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin tòa án, cổng thông tin Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình cho thấy có căn cứ xác định ông Đ bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1988 đến nay đã hơn 33 năm. Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Đ còn sống nên cần chấp nhận yêu cầu của bà C về việc tuyên bố ông Đ là đã chết. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự và trình bày của bà C tại phiên họp cho thấy không xác định được ngày, tháng ông Đ biệt tích mà chỉ xác định được năm có tin tức cuối cùng về ông Đ là năm 1988. Do vậy, cần xác định ông Đ biệt tích vào ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng tức là ngày 01 tháng 01 năm 1989 và ngày chết của ông Đ là ngày 01 tháng 01 năm 1994 theo quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Đ là đã chết: Quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của ông Đ được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của ông Đ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí Tòa án: Bà C là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự nên bà C được miễn nộp lệ phí Tòa án theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 367, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị C.
Tuyên bố: Ông Tạ Hữu Đ, sinh năm 1943, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình là đã chết. Ông Tạ Hữu Đ chết ngày 01 tháng 01 năm 1994.
Quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Đ được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Đ được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà Đỗ Thị C.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Hoa Lư; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Ninh Vân; - THADS huyện Hoa Lư; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu TA | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Vũ Thị Kim Oanh |