- Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T về việc chấm dứt nuôi con nuôi.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST-VDS V/v: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”. | Tiền Hải, ngày 27 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI B
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Linh.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2022/TLST-VDS ngày 30 tháng 6 năm 2022 về việc “ Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 02/2022/QĐPH-ST ngày 18 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Thanh B, sinh năm 1956 và bà Đào Thị T, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện H, tỉnh Thái Bình.
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Phương A, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(Ông B, bà T có mặt; chị Phương A vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ VIỆC:
Tại đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi và quá trình tố tụng tại Tòa án, người yêu cầu là ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T trình bày: Ngày 07/4/2003 tại Khoa sản Trung tâm y tế huyện Tiền Hải (nay là Bệnh viện Đa khoa huyện Tiền Hải) có bé gái mới sinh bị mẹ bỏ rơi ở bệnh viện. Sau khi biết tin và thương cháu bé nên ông bà đã đến Bệnh viện và đề nghị với Bệnh viện xin nhận cháu bé về nuôi dưỡng. Được sự đồng ý của Ban giám đốc Bệnh viện, gia đình ông bà đã làm thủ tục nhận nuôi bé gái. Sau khi hoàn thiện thủ tục pháp lý, ông bà đã làm khai sinh cho cháu và đặt tên cho cháu là Hoàng Phương A, sinh ngày 07/4/2003, đồng thời đăng ký hộ khẩu cho cháu Hoàng Phương A vào hộ khẩu nhà ông bà. Trong quá trình nuôi dưỡng cháu Hoàng Phương A đến nay đã hơn 19 năm, ông bà luôn yêu thương, chăm sóc cháu như con đẻ, không có vi phạm gì trong việc nhận nuôi con nuôi và cho cháu được học hành đầy đủ. Nay cháu Hoàng Phương A đã bước sang tuổi 20, có sức khỏe tốt, không mắc bệnh tật gì, có khả năng tự lao động để nuôi bản thân. Mặt khác ông B, bà T tuổi đã cao, sức khỏe yếu, không còn đủ sức khỏe để lo cho cháu Hoàng Phương A nữa. Vì vậy, ông B, bà T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Hoàng Phương A.
Tại Biên bản lấy lời khai, đơn đề nghị giải quyết vụ việc vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Phương A trình bày: Chị là con nuôi của ông B, bà T, chị được ông B, bà T nhận nuôi từ khi chị mới sinh ra. Trong thời gian chị làm con nuôi của ông B, bà T chị được ông bà thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, cho học hành tử tế như con đẻ, chị không có đóng góp gì vào khối tài sản chung của ông B, bà T. Hiện nay chị đã trên 18 tuổi, có sức khỏe, không mắc bệnh tật gì và có đủ khả năng để quyết định mọi việc của bản thân. Do đó việc ông B, bà T có đơn yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị, chị đồng ý và đề nghị Tòa án chấp nhận đơn của ông B, bà T. Ngoài ra chị không có ý kiến, đề nghị gì khác.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp cũng như quan điểm về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T đối với chị Hoàng Phương A. Về lệ phí: Người yêu cầu phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tiền Hải tham gia phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải nhận định:
.Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T có đơn yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Hoàng Phương A. Xét thấy, người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có nơi cư trú tại thôn Đ, xã G, huyện H, tỉnh Thái B. Căn cứ vào Điều 10 Luật nuôi con nuôi, khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T.
.Về việc giải quyết việc dân sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Hoàng Phương A vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt chị Hoàng Phương A.
. Về nội dung: Xét yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T, Tòa án nhận thấy: Chị Hoàng Phương A được ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T nhận làm con nuôi theo Quyết định công nhận nuôi con nuôi số 01-QĐ/UBND ngày 22/4/2003 của Ủy ban nhân dân xã S (nay là thị trấn T), huyện H, tỉnh Thái Bình và Biên bản giao nhận nuôi con nuôi ngày 22/4/2003. Do đó, quan hệ giữa ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T với chị Hoàng Phương A là quan hệ cha mẹ nuôi, con nuôi hợp pháp. Vì vậy, ông B và bà T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật nuôi con nuôi.
Trong quá trình chị Hoàng Phương A làm con nuôi ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T, các bên đều xác định không xảy ra mâu thuẫn, vi phạm gì, các quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được thực hiện đầy đủ, chị Phương A được nhận nuôi từ lúc mới sinh ra và từ khi được nhận làm con nuôi của ông B, bà T cho đến nay chị Phương A không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản chung của ông B, bà T. Đến nay chị Phương A đã thành niên, không mắc bệnh tật gì và có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi và không có ý kiến gì khác. Căn cứ vào khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T về việc chấm dứt nuôi con nuôi đối với chị Hoàng Phương A.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35,khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10, khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T về việc chấm dứt nuôi con nuôi.
2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa của ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T với chị Hoàng Phương A.
3. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi là ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T và con nuôi là chị Hoàng Phương A chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Về Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Thanh B và bà Đào Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông B, bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo Biên lai thu số 0002423 ngày 30/6/2022.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được tống đạt hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái B có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liện quan; - VKSND huyện Tiền Hải; - UBND thị trấn T; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Chu Thị Linh |