- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Hà Hương yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với anh Bùi Văn Hóa"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hà H:
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02 /2022/QĐST-DS | Kiến Xương, ngày 13 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phan Anh Tuấn.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Duyên- Kiểm sát viên
Ngày 13/7/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2022/TLST- VHNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022 về việc “yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST-VHNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022. Quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST – VDS ngày 30 tháng 6 năm 2022.
Gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Nguyễn Hà H, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Văn H, sinh năm 1983.
Địa chỉ: thôn G, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Ủy ban nhân dân xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Mạnh H – Chủ tịch.
( chị H, anh H có mặt tại phiên họp. Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã B có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu chị Nguyễn Hà H trình bày:
Chị và anh Bùi Văn H có đăng ký kết hôn ngày 22/12/2021 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Trước khi kết hôn với chị, anh H đã kết hôn với chị Bùi Thị T, sinh năm 1980, địa chỉ: thôn C, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình vào năm 2016 tại UBND xã B. Khi đăng ký kết hôn với anh H, chị không biết anh H chưa ly hôn với chị T, anh H đã nói dối chị về việc đã ly hôn hiện chưa kết hôn. Đến nay chị được biết thông tin anh H chưa ly hôn với chị T, hai anh chị hiện đang sống ly thân. Do đó, chị đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh H.
Chị và anh H chưa có con chung, không có tài sản chung, nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Bùi Văn H trình bày:
Vào ngày 22/12/2021, anh và chị Nguyễn Hà H đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Minh. Trước đó, vào khoảng năm 2017, anh có đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị T tại UBND xã B, có chung sống cùng với chị T một thời gian nhưng vì cuộc sống mưu sinh, anh phải đi làm ăn xa. Anh nhận thấy chung sống với chị T không được hạnh phúc, tình cảm nhạt nhẽo nên đã chuyển về sinh sống tại thôn G, xã B. Do thiếu hiểu biết nên anh đã đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Hà H mà chưa ly hôn với chị T, anh không nói cho chị H biêt về việc đã kết hôn với chị T, hiện đang sống ly thân. Hiện nay anh xác định việc kết hôn giữa anh và chị H là trái pháp luật, đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh chị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – UBND xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình trình bày:
Ngày 22/12/2021, UBND xã B tiếp nhận hồ sơ và đăng ký kết hôn cho anh Bùi Văn H, sinh năm 1983, địa chỉ: thôn G, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình, số thẻ căn cước công dân xxxxxxxxxxxx cấp ngày 21/9/2021 với chị Nguyễn Hà H, sinh năm 1981, địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình, số thẻ căn cước công dân xxxxxxxxxxxx cấp ngày 06/11/2019 (giấy chứng nhận kết hôn số 23 do UBND xã B cấp ngày 22/12/2021).
Hiện qua kiểm tra sổ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân năm 2016, UBND xã B phát hiện việc đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn giữa anh H và chị H có dấu hiệu vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình. Ngày 21/4/2022, UBND xã B đã có công văn số 07/UBND gửi UBND xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để đề nghị xác minh tình trạng hôn nhân của chị Bùi Thị T, địa chỉ: xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình và việc đăng ký kết hôn giữa chị T và anh H, bởi ngày 11/3/2016, UBND xã B đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho anh H để đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị T.
Ngày 22/4/2022, UBND xã B nhận được kết quả xác minh, trả lời của UBND xã B tại công văn số 08/UBND-TP ngày 22/4/2022 với nội dung như sau: Ngày 14/3/2016, UBND xã B đã đăng ký kết hôn cho chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn H. Xác minh thông tin do chị T cung cấp, hiện chị Thơm và anh H mới ly thân, chưa ly hôn.
Căn cứ nội dung trả lời và xác nhận của UBND xã B, UBND xã B nhận thấy việc kết hôn giữa anh H và chị H được thực hiện ngày 22/12/2021 là trái với quy định của pháp luật, anh H vi phạm hành vi bị cấm theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 5, vi phạm về điều kiện kết hôn theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh H đã gian dối, kê khai không đúng sự thật khi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã B. Tại thời điểm làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Hà H, anh Bùi Văn H đang có vợ là chị Bùi Thị T. UBND xã Bình M đề nghị Tòa án giải quyết và hủy đăng ký kết hôn trái pháp luật giữa anh H và chị H.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và người yêu cầu đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Nguyễn Hà H về việc kết hôn giữa chị và anh Bùi Văn H.
- Về lệ phí: Chị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Hà H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình nên việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
Về quyền yêu cầu: Chị H kết hôn với anh H vào ngày 22/12/2021, tại thời điểm đăng ký kết hôn với anh H chị không biết anh Hóa là người đang có vợ, nên chị H là người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị H và anh H đăng ký kết hôn ngày 22/12/2021 tại UBND xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 22/12/2021. Tuy nhiên, vào ngày 14/3/2016, anh Hóa đã đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị T, sinh năm 1980, địa chỉ: thôn C, xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tại UBND xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Hiện nay anh H chưa ly hôn với chị T. Việc chị H anh H đăng ký kết hôn ngày 22/12/2021 đã vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về chế độ hôn nhân một vợ một chồng, tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh H là người đang có vợ chồng mà kết hôn với người khác, là hành vi bị nghiêm cấm. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H là quan hệ hôn nhân trái pháp luật, cần phải hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị H và anh H mà UBND xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 22/12/2021. Yêu cầu của chị g về việc hủy việc kết hôn giữa chị Hương anh Hóa là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Về lệ phí: Chị Nguyễn Hà H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của Pháp luật.
Về quyền kháng cáo: người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 10, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm g khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 35; Điều 367, 368, 370, 371 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hà H:
Tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Nguyễn Hà H và anh Bùi Văn H theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 cấp ngày 22/12/2021 của UBND xã B, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Buộc anh Bùi Văn H và chị Nguyễn Hà H chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
2. Về lệ phí: Chị Nguyễn Hà H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền tạm ứng lệ phí chị đã nộp theo biên lai số 0001653 ngày 25/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương sang thi hành lệ phí. Chị H đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hà H, anh Bùi Văn H có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định 13/7/2022. UBND xã B có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Kiến Xương; - Chi cục THADS huyện Kiến Xương; - Các đương sự; - UBND xã Bình Minh; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Phan Anh Tuấn |