vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 18/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Hoàng Thị V. Tuyên bố ông Tạ Văn T, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam đã chết ngày 01/01/1996.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Hoàng Thị V. Tuyên bố ông Tạ Văn T, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam đã chết ngày 01/01/1996.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-DS.Phủ Lý, ngày 18 tháng 4 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2021, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST-VDS ngày 08 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1959. Địa chỉ: thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Tạ Thị T1, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn PT, xã TH, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

(Phiên họp có mặt bà V, chị T1).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai tại Tòa án của người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ việc dân sự thì nội dung việc dân sự như sau:

Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1959 và ông Tạ Văn T, sinh năm 1963 có đăng ký kết hôn vào năm 1987 tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện DT, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là thành phố PL, tỉnh Hà Nam). Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà chung sống tại thôn LC, xã TT, thành phố PL. Quá trình chung sống vợ chồng ông bà sống hòa thuận không có vấn đề gì mâu thuẫn. Đến năm 1990 thì ông T đã bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không nói lý do gì cho gia đình vợ con biết, gia đình đã đi tìm nhiều lần, nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của ông T và ông T cũng không liên lạc gì với gia đình từ đó. Năm 1992 bố đẻ ông T là cụ Tạ Văn C chết và năm 2001 mẹ đẻ ông T là cụ Tạ Thị T chết, ông T cũng đều không về địa phương. Từ khi ông T bỏ nhà đi đến nay đã 32 năm liền mà gia đình không có tin tức xác thực về ông T là còn sống. Bà Hoàng Thị V là người yêu cầu đã làm thủ tục tìm kiếm thông tin của ông T trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 04 tháng. Đến nay đã hết thời hạn đăng tin nhưng gia đình vẫn không có tin tức gì của ông T là còn sống và ông T cũng không liên lạc gì với vợ con và gia đình.

Nay bà Hoàng Thị V yêu cầu Toà án tuyên bố một người là đã chết đối với chồng bà là ông Tạ Văn T, sinh năm 1963, đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam kể từ năm 1990 đến nay không có tin tức gì.

* Tại phiên họp:

- Bà Hoàng Thị V vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Tạ Văn T là đã chết. Chị Tạ Thị T1 là con chung duy nhất của bà V và ông T nhất trí việc bà Hoàng Thị V yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Tạ Văn T là đã chết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý phát biểu quan điểm: Thẩm phán đã thụ lý việc dân sự đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 27, 35, 39, 68, 144, 149, 391, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 68, 71, 72 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị V.

+ Tuyên bố ông Tạ Văn T, sinh năm 1963, nơi cư trú cuối cùng tại thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam chết ngày 01/01/1996. Quan hệ nhân thân và tài sản liên quan đến ông T được giải quyết như đối với người đã chết.

+ Về lệ phí sơ thẩm: Bà Hoàng Thị V phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ, được đối trừ với số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Tạ Văn T có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc bà Hoàng Thị V yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với ông Tạ Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo trình tự sơ thẩm.

Về nội dung: Ông Tạ Văn T đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam từ năm 1990 đến nay đã 32 năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống. Bà Hoàng Thị V là vợ ông T, chị Tạ Thị T1 là con đẻ của ông T và chính quyền xã TT là nơi cư trú cuối cùng của ông Tạ Văn T cũng xác nhận ông T bỏ đi biệt tích đến nay 32 năm liền mà không có tin tức xác thực ông T còn sống.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết ngày 30/11/2021 của bà Hoàng Thị V, đề nghị Toà án thông báo tìm kiếm thông tin ông Tạ Văn T trên các phương tiện thông tin đại chúng. Toà án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 02/2021/QĐ-TA ngày 03/12/2021 và Tòa án đã tiến hành đăng tin tìm kiếm ông Tạ Văn T trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án từ ngày 09/12/2021. Bà Hoàng Thị V cũng đã tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm ông Tạ Văn T trên báo Lao động trong ba kỳ liên tiếp vào các ngày 08,09,10/12/2021 và đăng tin tìm kiếm ông Tạ Văn T trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần vào các ngày 17,18,19/12/2021. Việc đăng tin thực hiện đúng theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (bốn tháng) mà vẫn không có tin tức xác thực là ông Tạ Văn T còn sống. Do đó căn cứ vào điểm d khoản 1 điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Toà chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị V về việc tuyên bố ông Tạ Văn T đã chết là đúng pháp luật.

Về ngày chết của ông Tạ Văn T: Theo lời trình bày của bà Hoàng Thị V là vợ ông T, chị Tạ Thị T1 là con đẻ ông T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự thì chỉ xác định được thời gian ông T bỏ đi khỏi địa phương là từ năm 1990 mà không xác định được ngày, tháng cụ thể. Do đó, thời hạn 05 năm liền biệt tích của ông T được xác định từ ngày 01/01/1991 và ngày chết của ông T được xác định vào ngày 01/01/1996 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Căn cứ Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị V phải nộp 300.000đ.

Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định này theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 68, 71, 72 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 68; Điều 143; Điều 144; khoản 2 Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 392; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Hoàng Thị V. Tuyên bố ông Tạ Văn T, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: thôn LC, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam đã chết ngày 01/01/1996.

2. Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị V phải nộp 300.000đ. Bà V được đối trừ với 300.000đ mà bà đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai số AA/2021/0000275 ngày 18/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý. Bà Hoàng Thị V đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ