vanban.org

Quyết định 02/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng T.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất năng lực hành vi dân sự. Chi phí giám định: Chị Nguyễn Thị Hồng T tự nguyện chịu chi phí giám định với tổng số tiền là 4.333.750 đồng và chị T đã nộp đủ nên không đặt vấn đề xử lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "T-L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Số: 02/2021/QĐST-VDS
Tân Hồng, ngày 14 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2020/TLST-VDS ngày 30 tháng 11 năm 2020 về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2020/QĐST-VDS ngày 30 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn L, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu cũng như tại phiên họp sơ thẩm chị Nguyễn Thị Hồng T trình bày: Vào năm 2001 anh Nguyễn Văn L có đi nghĩa vụ quân sự trong quá trình tập luyện anh L bị chấn thương phần đầu khi đó đơn vị có đưa anh L đi điều trị bệnh và bệnh viện chuẩn đoán anh L bị bệnh tâm thần phân liệt. Sau đó, anh L được xuất ngũ về nhà nên chị T và anh L có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã P năm 2005. Đến năm 2010 anh L bị tai nạn giao thông lại bị thương vùng đầu nên anh L không còn kiểm soát được bản thân. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất năng lực hành vi dân sự, để chị T thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình vay vốn ngân hàng.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký phiên họp đảm bảo việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự và người yêu cầu chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào kết quả giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 334/2020/KLGĐ ngày 24-12-2020 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: Về y học: Hiện tại, đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0 - ICD10), có hoang tưởng chi phối hành vi; Về năng lực: Hiện tại, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Như vậy, anh Nguyễn Văn L mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là có thật, nên chị Nguyễn Thị Hồng T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn L mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện tân Hồng đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 22 để chấp nhận yêu cầu của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng nhận định:

Về tố tụng: Xét đơn của chị T về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với anh L là việc dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54 ngày 16-8-2005 giữa chị Nguyễn Thị Hồng T với anh Nguyễn Văn L tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Tân Hồng. Do đó, chị Nguyễn Thị Hồng T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Theo kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 334/2020/KLGĐ ngày 24-12-2020 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1979.

Về y học: Hiện tại, đương sự có bệnh lý tâm thần: Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0 - ICD10), có hoang tưởng chi phối hành vi.

Về năng lực: Hiện tại, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Từ những phân tích trên, xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng T về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng: Là có căn cứ nên chấp nhận.

Chi phí giám định: Chị Nguyễn Thị Hồng T là người yêu cầu giám định và tự nguyện chịu chi phí giám định với tổng số tiền là 4.333.750đồng (theo phiếu thu ngày 24-12-2020 số tiền là 1.233.750 đồng và hóa đơn bán hàng ngày 24-12-2020 là 3.100.000 đồng) và chị T đã nộp đủ nên không xem xét.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 144, Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 376, Điều 377, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 36 của Luật giám định tư pháp.

Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng T.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất năng lực hành vi dân sự.

Chi phí giám định: Chị Nguyễn Thị Hồng T tự nguyện chịu chi phí giám định với tổng số tiền là 4.333.750 đồng và chị T đã nộp đủ nên không đặt vấn đề xử lý.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0009470 ngày 30-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị Hồng T đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định (ngày 14-01-2021).

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ