vanban.org

Quyết định 02/2021/QĐST-TCDS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 18/2021/TLHG-TCDS ngày 08 tháng 7 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, cụ thể như sau:

Bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền nợ 40.000.000 đồng cho chị Phạm Thị Lan A được chia thành 3 đợt, cụ thể như sau: Đợt thứ nhất: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) vào ngày 28/1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "PHẠM THỊ LAN A - TRẦN THỊ TH - T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 18/2021/TLHG-TCDS ngày 08 tháng 7 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 280 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2021/QĐST-TCDSB, ngày 06 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thẩm phán ra quyết định: Ông Đỗ Quốc Tân

- Người khởi kiện: Chị Phạm Thị Lan A, sinh năm 1976

Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

- Người bị kiện: Bà Trần Thị Th, sinh năm 1959 và anh Hoàng Quốc T, sinh năm 1984

Nơi cư trú: TDP Ph, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

NỘI DUNG:

Theo nội dung biên bản ghi nhận kết quả hòa giải về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” tại Tòa án ngày 20/8/2021:

Các bên đương sự chị Phạm Thị Lan A, bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T thống nhất thỏa thuận ngày 18/4/2017 bà Th và anh T có mượn chị Phạm Thị Lan A 80.000.000 đồng hẹn đến ngày 30/12/2018 sẽ trả hết nợ nhưng đến hạn trả nợ bà Th và anh T không trả mà tiếp tục khất nợ chị Lan A vào ngày 24/6/2019 và ngày 20/01/2020 sẽ trả hết nợ nhưng trong khoảng thời gian đó bà Th và anh T mới trả cho chị Lan A 40.000.000 đồng. Tính đến thời điểm hiện tại bà Th và anh T thừa nhận còn nợ chị Phạm Thị Lan A số tiền 40.000.000 đồng. Chị Lan A không yêu cầu tính lãi.

Các bên thống nhất thỏa thuận bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số tiền nợ 40.000.000 đồng cho chị Phạm Thị Lan A chia thành 3 đợt cụ thể như sau:

- Đợt thứ nhất: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) vào ngày 28/11/2021.

- Đợt thứ hai: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) vào ngày 28/3/2022.

Đợt thứ 3: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng) vào ngày 28/7/2022.

Trong trường hợp bà Th và anh T vi phạm bất cứ thời gian trả nợ nào như đã cam kết thì chị Phạm Thị Lan A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ra quyết định buộc anh T và bà Th phải thi hành toàn bộ số tiền chưa thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải tại Tòa án được thẩm tra tại phiên hòa giải; ý kiến của các bên tham gia hòa giải, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận định:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 20 tháng 8 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

[2 Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

Căn cứ hồ sơ vụ án tranh chấp dân sự thụ lý hòa giải số: 18/2021/TLHG-TCDS ngày 08 tháng 7 năm 2021; các Điều 117, 119, 280, 288, 463, 466, 470 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 9; các Điều 32, 33, 34, 35, 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 20 tháng 8 năm 2021,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số: 18/2021/TLHG-TCDS ngày 08 tháng 7 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, cụ thể như sau:

Bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền nợ 40.000.000 đồng cho chị Phạm Thị Lan A được chia thành 3 đợt, cụ thể như sau:

- Đợt thứ nhất: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) vào ngày 28/11/2021.

- Đợt thứ hai: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) vào ngày 28/3/2022.

Đợt thứ 3: bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T phải trả cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng) vào ngày 28/7/2022.

Trong trường hợp bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ ở bất cứ kỳ thanh toán nào theo mốc thời gian như đã thỏa thuận ở trên thì chị Phạm Thị Lan A có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ra quyết định buộc bà Th và anh T phải thi hành toàn bộ số tiền chưa thanh toán.

2. Về chi phí hòa giải: chị Phạm Thị Lan A, bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T không phải chịu chi phí hòa giải theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Chị Phạm Thị Lan A, bà Trần Thị Th và anh Hoàng Quốc T, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

Cỡ chữ