- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Văn T- Mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐST-DS | Tp H, ngày 12 tháng 3 năm 2021. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Xuân Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thắm
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Nhiệm – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số 01/68 A, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
Những người tham gia tố tụng khác:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1943; địa chỉ: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Vũ Thị K, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Hoàng Hi, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu Đồng Pháp, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn Quan Đình, xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
+ Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1973; địa chỉ: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
+ Ông Nguyễn Duy Th, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
(Toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng nên vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số 01/68 A, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ông Nguyễn Văn K có bố là cụ Nguyễn Văn Đình, sinh năm 1926, chết năm 2007 và mẹ là cụ Nguyễn Thị Ngứa, sinh năm 1924, chết năm 1967. Cụ Đình và cụ Ngứa sinh được 4 người con gồm ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954; ông Nguyễn Văn Đới, sinh năm 1957, chết năm 2018; ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963. Sau khi bà Ngứa chết ông Đình xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1943 và sinh được 3 người con gồm: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1973 và anh Nguyễn Duy Th, sinh năm 1976. Tất cả các anh chị em do cụ Đình và cụ Ngứa sinh ra đều là người khỏe mạnh bình thường, gia đình các cụ tiền sử bên nội, ngoại không có ai mắc bệnh về tâm thần. Riêng ông Nguyễn Văn K – sinh năm 1960 sau khi học hết lớp 7/10 vẫn là người khỏe mạnh bình thường. Từ năm 1978 đi thanh niên xung phong tại đội 371 đóng tại M, Quảng Ninh đến tháng 10/1982 về địa phương thì mắc bệnh tâm thần. Năm 1983 thì gia đình có đưa ông K đi điều trị tại bệnh viện thần kinh Hải Hưng (nay là H) với chẩn đoán theo sổ điều trị ngoại trú là bị tâm thần phân liệt. Cho đến nay, do ngày càng cao tuổi nên bệnh tình của ông Nguyễn Văn K không thuyên giảm mà càng nặng thêm; hiện tại ông Nguyễn Văn K thường đi lang thang, ít ngủ, ăn uống thất thường, hay nói năng lẩn thẩn một mình, có các động tác và việc làm kỳ quặc khó hiểu; đặc biệt có từng cơn nổi khùng, gây sự đập phá, xé bỏ quần áo, đại tiểu tiện không phân biệt địa điểm. Bản thân ông Nguyễn Văn K đang được hưởng chế độ trợ cấp xã hội theo dạng người khuyết tật đặc biệt nặng.
Nhằm đảm bảo quyền lợi dân sự của ông Nguyễn Văn K theo quy định của pháp luật trong khi bố mẹ ông K đều đã chết, ông K không có vợ, con. Ông Nguyễn Văn T là anh trai cả trong gia đình sau khi đã họp thống nhất với các thành viên khác trong gia đình đã đứng đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và trong trường hợp nếu ông Nguyễn Văn K là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì yêu cầu Tòa án chỉ định ông Nguyễn Văn T là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn K.
Tại phiên họp, căn cứ vào kết luận giám định đã kết luận ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự nên ông Nguyễn Văn T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết, Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T tuyên bố ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương nhận định:
Về xác định nội dung yêu cầu phải giải quyết:
Người yêu cầu ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố em trai ông là ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tòa án nhân dân thành phố H đã thụ lý yêu cầu của ông Nguyễn Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 376 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, căn cứ vào kết luận giám định, ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự nên yêu cầu phải giải quyết là tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Về căn cứ chấp nhận yêu cầu đề nghị tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu:
Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 12/KLGĐ ngày 28/01/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương kết luận: Tại thời điểm giám định, đối tượng Nguyễn Văn K bị bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.5. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Như vậy, ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn K là người mất năng lực hành vi dân sự phù hợp với Kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương, phù hợp với nhân thân và tình trạng thực tế của ông Nguyễn Văn K tại thời điểm giám định là có căn cứ cần được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí giám định:
Ông Nguyễn Văn T là người cao tuổi và đã có đơn đề nghị nên được miễn toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật; ông Nguyễn Văn T tự nguyện chi trả chi phí giám định cho cơ quan giám định đồng thời không có đề nghị gì về chi phí giám định nên không đặt ra giải quyết.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 367, 369, 370 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 22, 46 của Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là ông Nguyễn Văn T.
1. Tuyên bố: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; hộ khẩu thường trú và trú tại: Khu V, phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người mất năng lực hành vi dân sự (mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi).
2. Người yêu cầu ông Nguyễn Văn T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Người yêu cầu ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo quyết định này (bao gồm cả kháng cáo thay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do ông Nguyễn Văn T đã được ủy quyền) trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND thành phố H; - UBND phường A, thành phố H; - Lưu hồ sơ việc dân sự; - Lưu VP. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Xuân Hiền |