- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Mỹ T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Cao Mỹ D là đã chết:
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU ------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐST-DS | Bạc Liêu, ngày 30 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Minh Tân
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên họp: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 457/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2021 và quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2021/QĐST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Cao Mỹ T, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Cao Mỹ D, sinh năm 1973
Nơi cư trú cuối cùng: Số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
2. Ông Cao Hải T1, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Bà T và ông T1 có đơn xin vắng mặt, bà D vắng mặt tại phiên họp)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 21/10/2020 và trong quá trình giải quyết vụ việc, bà Cao Mỹ T trình bày:
Cha mẹ bà T là ông Cao Thọ T2 (đã chết vào năm 2015) và bà Dương Thị H (đã chết vào năm 2017) có 03 người con là Cao Mỹ T, Cao Mỹ D và Cao Hải T1. Từ nhỏ bà Cao Mỹ D sinh sống cùng gia đình tại số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho đến năm 2003 thì bà D đi lên thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2005, bà D có trở về nhà và dẫn theo một đứa con, D nói là có chồng Đài Loan và có một đứa con. D sinh sống tại nhà số 26 được khoảng một tháng thì trở lên thành phố Hồ Chí Minh, gia đình vẫn còn liên lạc với D đến năm 2007 thì mất liên lạc cho đến nay. Gia đình cũng không có tin tức gì về việc hiện nay D còn sống hay đã chết. Vào năm 2015, gia đình có nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố D mất tích. Tòa án chấp nhận yêu cầu và ban hành quyết định tuyên bố Cao Mỹ D mất tích (Nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích là số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu), quyết định trên đã có hiệu lực pháp luật. Nay bà Cao Mỹ T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Cao Mỹ D là đã chết để thực hiện các thủ tục về thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Hải T1 trình bày: Thống nhất với phần trình bày và yêu cầu của bà Cao Mỹ T trong quá trình tham gia giải quyết vụ việc tại Tòa án, ông T1 đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu của bà Cao Mỹ T, tuyên bố bà Cao Mỹ D là đã chết. Ngoài ra ông T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu có ý kiến phát biểu về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự: Thẩm phán và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung đơn yêu cầu của bà T, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu, đề nghị căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận đơn yêu cầu của bà Cao Mỹ T, tuyên bố bà Cao Mỹ D là đã chết, xác định ngày chết của bà Cao Mỹ D là ngày 28/11/2018. Khi quyết định có hiệu lực thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Cao Mỹ D được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà Cao Mỹ D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Bà Cao Mỹ T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Cao Mỹ T yêu cầu tuyên bố bà Cao Mỹ D là đã chết. Bà Cao Mỹ D có nơi cư trú cuối cùng tại số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Cao Mỹ T và ông Cao Hải T1 có đơn xin vắng mặt, bà Cao Mỹ D vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà T, bà D và ông T1 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Cao Mỹ D đã được Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 03/2015/QĐ-VDS ngày 11 tháng 11 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Kể từ ngày quyết định tuyên bố bà D mất tích có hiệu lực đến nay vẫn không có tin tức xác thực bà D là còn sống nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D đã chết là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và xác nhận của chính quyền địa phương thì bà D có nơi cư trú cuối cùng tại số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Bà D bỏ nhà, đi khỏi địa phường từ năm 2005, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên bố bà D mất tích theo Quyết định số 03/2015/QĐ-VDS ngày 11 tháng 11 năm 2015. Gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm những vẫn không có tin tức gì về bà D. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự quy định: “Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống” thì bà Cao Mỹ D biệt tích 06 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Đồng thời, kết quả xác minh thông tin về cư trú của bà Cao Mỹ D cũng thể hiện vào tháng 7 năm 2019, bà Cao Mỹ T đã nộp hồ sơ đến Công an thành phố Bạc Liêu đề nghị xóa đăng ký thường trú đối với bà D và Công an thành phố Bạc Liêu đã giải quyết đơn yêu cầu của bà T, xóa đăng ký thường trú đối với bà D. Do đó, bà T là chị bà D yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D đã chết là có cơ sở nên được chấp nhận.
Theo quyết định số 03/2015/QĐ-VDS ngày 11 tháng 11 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xác định bà Cao Mỹ D bỏ nhà đi từ năm 2005, đến năm 2007 thì gia đình mất liên lạc hoàn toàn với bà D. Hiện nay bà D không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Quyết định trên không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án xác định ngày có hiệu lực của Quyết định là ngày 27/11/2015. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự, Tòa án xác định ngày chết của bà Cao Mỹ Dlà ngày 28/11/2018.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu là phù hợp nên được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Cao Mỹ T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng theo khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 391; Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;
-Căn cứ khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Mỹ T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Cao Mỹ D là đã chết:
1.1 Tuyên bố bà Cao Mỹ D, sinh năm 1973. Nơi cư trú cuối cùng: Số 26, đường C, khóm D, phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu là đã chết.
1.2 Ngày chết của bà Cao Mỹ D là ngày 28/11/2018 (ngày hai mươi tám, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm mười tám).
1.3 Khi quyết định này có hiệu lực thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Cao Mỹ D được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà Cao Mỹ D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Cao Mỹ T phải nộp 300.000 đồng. Bà Cao Mỹ T đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0007400 ngày 14 tháng 12 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu lệ phí 300.000 đồng.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bạc Liêu; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS TP Bạc Liêu; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Minh Tân |