- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐST-DS | An Dương, ngày 26 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Duy Thạch
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Tình – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 48/2020/TLST-VDS ngày 13 tháng 10 năm 2020 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-VDS ngày 17 tháng 02 năm 2021.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T; nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên họp.
- Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Chị Vũ Thị T1; ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Trong đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà Nguyễn Thị T và chồng là ông Vũ Văn H (chết năm 2019, không để lại di chúc) có con là chị Vũ Thị T1 (Quê quán; ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng); chị Vũ Thị T1 không có chồng, con. Năm 2003 (không xác định được ngày, tháng cụ thể), chị Vũ Thị T1 đã bỏ đi biệt tích, không để lại địa chỉ; gia đình bà Nguyễn Thị T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có kết quả, không ai biết được tin tức gì xác thực chị Vũ Thị T1 còn sống hay đã chết, chị Vũ Thị T1 cũng không có lần nào trở về địa phương.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị T1 là người đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và Người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết yêu cầu của Người yêu cầu: Chị Vũ Thị T1 đã biệt tích từ năm 2003 đến nay, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Vũ Thị T1 còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự tuyên bố chị Vũ Thị T1 là người đã chết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện A.
Xét yêu cầu của Người yêu cầu: Chị Vũ Thị T1 đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng từ năm 2003. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị Vũ Thị T1 theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực việc chị Vũ Thị T1 còn sống hay đã chết. Chị Vũ Thị T1 đã biệt tích 05 năm liền trở lên nên căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận đơn yêu cầu của Người yêu cầu, tuyên bố chị Vũ Thị T1 là người đã chết.
Về thời điểm chết của chị Vũ Thị T1: Chị Vũ Thị T1 bỏ đi từ năm 2003 (không rõ ngày, tháng cụ thể) nên theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, ngày chị Vũ Thị T1 bỏ đi biệt tích được xác định là ngày 01 tháng 01 năm 2004. Vì vậy thời điểm xác định chị Vũ Thị T1 đã chết là ngày 02 tháng 01 năm 2009 (sau 05 năm kể từ ngày bỏ đi biệt tích).
Về hậu quả pháp lý của việc chị Vũ Thị T1 bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị T1 đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của chị Vũ Thị T1 được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Vũ Thị T1 được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi nên được miễn lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 370, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự; căn cứ các điều 5, 6, 7 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
- Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Nguyễn Thị T.
Tuyên bố chị Vũ Thị T1 (Quê quán; nơi ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng) là người đã chết.
Thời điểm chết của chị Vũ Thị T1 là ngày 02 tháng 01 năm 2009.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Miễn tiền lệ phí Tòa án cho bà Nguyễn Thị T
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hải Phòng; - VKSND huyện A; - Chi cục Thi hành án dân sự An Dương; - UBND xã A; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | THẨM PHÁN Bùi Duy Thạch |