vanban.org

Quyết định 02/2021/QĐST-DS — Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.

Tuyên bố Ông Thạch Ch, sinh năm 1965. Nơi cư trú cuối cùng: Ấp C 2, xã H, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh mất tích. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, nhưng bà Huỳnh Thị L có đơn xin miễn tiền lệ phí giải quyết việc d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2021/QĐST-DSCầu Kè, ngày 13 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Trúc Linh

Thư ký phiên họp: Ông Lâm Thành Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Mộng Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 2948/2020/TLST-VDS ngày 03 tháng 12 năm 2020 “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2021/QĐST-VDS ngày 27 - 7 - 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1959

Địa chỉ: Khóm 4, thị trấn C, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thạch Ch, sinh năm 1965.

Nơi cư trú cuối cùng: Ấp C 2, xã H, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ý kiến của bà Huỳnh Thị Lý trình bày: Bà và ông Thạch Ch chung sống vào năm 1998 và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/5/2014 tại Ủy ban nhân thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè. Thời gian chung sống không có con chung. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng cự cải nhau, sống chung không hạnh phúc nên cả hai đã ly thân nhau khoảng 7 năm nay. Sau đó, ông Thạch Chươc đã rời bỏ địa phương là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở ấp C 2, xã H, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã hơn 7 năm. Bà không liên lạc được với ông Ch, bà và gia đình có tìm kiếm nhưng cũng không biết nơi cư trú mới của ông Ch ở đâu.

Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thạch Ch mất tích để bà làm thủ tục xin ly hôn với ông Thạch Ch.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ việc từ khi thụ lý cho đến ngày quyết định mở phiên họp, Thẩm phán đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định pháp luật. Sau khi phân tích nội dung và chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự: Vị Kiểm sát viên đề nghị căn cứ Điều 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L tuyên bố ông Thạch Ch mất tích. Về lệ phí, chi phí nhắn tin, đăng thông báo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè nhận định.

Bà Huỳnh Thị L và ông Thạch Ch chung sống vào năm 1998 và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/5/2014 tại Ủy ban nhân thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông Chươc đã bỏ địa phương đi biệt tích đã hơn 07 năm nay. Như vậy, bà Huỳnh Thị L là người có quyền yêu cầu tuyên bố ông Thạch Ch mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào xác nhận của Công an xã H thì ông Thạch Ch có nơi cư trú cuối cùng tại xã H, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh nhưng ông Ch đã bỏ địa phương khoảng 07 năm nay là đúng. Mặc dù Tòa án đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng đến nay không có tin tức. Vì vậy, bà Huỳnh Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Thạch Ch mất tích là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, lệ phí nhắn tin, đăng thông báo: Bà Huỳnh Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp hôm nay là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 387; 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.

2. Tuyên bố Ông Thạch Ch, sinh năm 1965. Nơi cư trú cuối cùng: Ấp C 2, xã H, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh mất tích.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, nhưng bà Huỳnh Thị L có đơn xin miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự do thuộc trường hợp là người cao tuổi nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị L số tiền là 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004920 ngày 27 tháng 11 năm 2020 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè.

Ông Thạch Ch không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

4. Về lệ phí nhắn tin và đăng thông báo tìm kiếm: Buộc bà Huỳnh Thị L phải chịu 3.044.000 đồng (bà Lý đã nộp và chi xong).

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt, được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết công khai.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ