vanban.org

Quyết định 02/2021/QĐHG-HNGD — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Nguyễn Thị Thu H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và anh Trần Xuân C; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: 1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Xuân C thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Nguyễn Thị Thu H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và anh Trần Xuân C; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH
Số: 02/2021/QĐHG-HNGD
Thị xã Kỳ Anh, ngày 26 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thẩm phán ra quyết định: Nguyễn Ngọc Thạch.

Căn cứ hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số 09/2021/TL-HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2021 giữa các bên:

- Ngườ i khở i kiê ̣n: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 11-7-1995; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Ngườ i bi ̣ kiê ̣n : Anh Trần Xuân C, sinh ngày 16-6-1987; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào các Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 08 tháng 4 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc Hôn nhân và gia đình;

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án;

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi nhận trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 08 tháng 4 năm 2021 đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Chị Nguyễn Thị Thu H; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh và anh Trần Xuân C; nơi cư trú: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

2.1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Xuân C thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Xuân C thống nhất giao con chung là cháu Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 17-9-2013 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi) và giao cháu Trần Thị Đài Tr, sinh ngày 23-6-2016 cho anh Trần Xuân C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Xuân C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Xuân C tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của vợ chồng trước khi hòa giải, cụ thể: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Xuân C thống nhất giao lại toàn bộ tài sản chung của vợ chồnglà thửa đất số 138, tờ bản đồ số 54/371; địa chỉ: Thôn X, xã X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Diện tích: 265,4 m2; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở 200m2, đất trồng cây lâu năm 65,4m2; Thời hạn sử dụng: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao có thu tiền sử dụng đất; Thửa đất được UBND huyện Kỳ Anh (Nay là UBND thị xã Kỳ Anh) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS564388, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00347 ngày 15/07/2014 mang tên Trần Xuân C và Nguyễn Thị Thu H cho anh Trần Xuân C được quyền sử dụng, định đoạt; Thửa đất có sơ đồ, vị trí như sau: Phía Bắc giáp đất ông Tý và ông Tuấn dài 31,24 m; Phía Nam giáp đất ông Hoàn dài 31,96 m; Phía Tây giáp đất ông Đình dài 8,48 m; Phía Đông giáp đường liên thôn dài 8,33 m; Diện tích thửa đất là 265,4 m2.Giao cho anh Trần Xuân C được quyền sử dụng, định đoạt các tài sản trên thửa đất là 01 (một) rạp lợp bia rô diện tích 23,56 m2; 01 (một) nhà cấp IV, đổ bằng diện tích 34,96 m2; 01 (một) công trình phụ liền kề nhà cấp IV, lợp bia rô diện tích 24,3 m2.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi thành án dân sự.

4. Các bên có quyền xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ