- Tranh chấp gì? "Đoàn Thanh L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐ-TA | T M, ngày 08 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN - TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông An Văn Khoái.
2.Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương.
Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân huyện T M tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số: 02/2021/TLST ngày 01 tháng 02 năm 2021, theo quyết định mở phiên họp số: 01/2021/QĐ-TA ngày 03 tháng 02 năm 2021 về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với:
Họ và tên: Đoàn Thanh L.
Sinh ngày: 25 tháng 9 năm 1993.
CMTND: 142586998 cấp ngày 13/6/2012 của Công an tỉnh Hải Dương.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12.
ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C T, xã N H, huyện T M, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Đoàn Thế V và bà Phạm Thị T.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 10/8/2020 bị Chủ tịch UBND xã N H, huyện T M áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Phường, thị trấn theo quyết định số 02/QĐ-UBND về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Anh L vắng mặt tại phiên họp có đơn đề nghị vắng mặt.
- Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị Thanh Xuân - Phó trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T M, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện VKSND huyện T M, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đoàn Thanh L khai nhận sử dụng ma túy từ giữa năm 2018, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N H, huyện T M, tỉnh Hải Dương quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số: 02/QĐ-UBND, ngày 10/8/2020 với thời hạn là 03 tháng, L đã chấp hành xong.
Ngày 04/01/2021, Đoàn Thanh L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã N H, huyện T M, tỉnh Hải Dương lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 29/01/2021, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T M, tỉnh Hải Dương có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Thanh L và chuyển hồ sơ để Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.
Tại phiên họp:
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T M giữ nguyên quan điểm theo Công văn số: 22/LĐTBXH ngày 29/01/2021, đề nghị đưa Đoàn Thanh L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T M phát biểu quan điểm: Hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đưa Đoàn Thanh L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện T M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Thanh L với thời hạn từ 21 đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ quy định tại khoản 01 Điều 3 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 xác định: Việc Tòa án nhân dân huyện T M tỉnh Hải Dương thụ lý hồ sơ, xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Thanh L là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu, trình tự thủ tục, tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị.
- Về thời hiệu: Xác định thời điểm Đoàn Thanh L có hành vi vi phạm ngày 04/01/2021 đến nay trong thời hiệu áp dụng biện pháp vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị Định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính “Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của luật này”.
- Hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành đúng trình tự, thủ tục đầy đủ chặt chẽ đảm bảo tính khách quan theo đúng quy định tại Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 09 Nghị định số 136 ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 213 của chính Phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Điều 8, Điều 9 Nghị Định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc do đó các tài liệu có trong hồ sơ là hợp pháp.
Về nội dung: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản vi phạm hành chính, biên bản lấy lời khai, bản tự khai, phiếu xét nghiệm ma túy, phiếu theo dõi, phiếu trả lời kết quả... đã xác định được vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 04/01/2021 Đoàn Thành L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá tại nghĩa trang nhân dân thôn C T, xã N H, huyện T M, tỉnh Hải Dương, loại ma túy sử dụng là Methamphetamin, bị cơ quan công an xã N H lập biên bản vi phạm hành chính.
Như vậy, Thẩm phán có đủ căn cứ để kết luận Đoàn Thành L đã có hành vi vi phạm hành chính là sử dụng trái phép chất ma túy vào hồi 13 giờ 00 phút, ngày 04/01/2021. Trước đó L đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục sử dụng. Đoàn Thanh L có đủ năng lực chịu trách nhiệm xử lý hành chính, do đó thuộc trường hợp cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 3 Nghị Định 136 và Điều 3 Nghị Định 221 của Chính Phủ.
Về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm: Hậu quả của việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chính bản thân người sử dụng, làm mất khả năng lao động, học tập, thần kinh bị tổn hại, thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả. Tiêu hao tài sản, gây tổn thất về tinh thần cho các thành viên trong gia đình và gây mất trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội và tiềm ẩn nguy cơ gây nhiều hậu quả khác.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của L. Hành vi vi phạm của Đoàn Thanh L đã bị xử lý hành chính, do đó không được coi là tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Trong quá trình cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ để đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, Đoàn Thanh L đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, do đó L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm xử lý vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Xét thấy việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đoàn Thanh L trong một thời gian nhất định dưới sự giám sát, quản lý của cơ sở cai nghiện để giúp L từ bỏ hẳn ma túy, ổn định về thể chất lẫn tinh thần, lao động và học tập để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo trật tự công cộng và an toàn xã hội là cần thiết phù hợp với các quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 3 Nghị Định 136 ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 3 Nghị Định 221/NĐ-CP ngày 20/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105, Điều 107 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án; Nghị Định số 136 ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị Định 221/NĐ-CP ngày 20/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Hải Dương. Địa chỉ: Khu dân cư cầu Dòng, phường Cộng Hoà, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với:
Đoàn Thanh L sinh ngày: 25 tháng 9 năm 1993; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C T, xã N H, huyện T M, tỉnh Hải Dương.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện T M có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Toà án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện T M, tỉnh Hải Dương phối hợp với Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện T M có trách nhiệm thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân huyện T M; - Công an huyện T M; - Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện T M; - Phòng tư pháp huyện T M; - UBND xã N H; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án; | THẨM PHÁN An Văn Khoái |