- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Văn N - Đào Hải Âu"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 14/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ chính? Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐ-PT | Thái Bình, ngày 08 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Đỗ Thị Hà
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Bà Lương Hải Yến
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp:
Bà Nhâm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định số 14/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 05/2020/TLST-DS ngày 05/02/2020 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1961; bà Hà Thị Y, sinh năm 1962; ông Hà Đức Đ (Hà Đức D), sinh năm 1958; bà Phạm Thị P, sinh năm 1964. Đều cư trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Ông Đào Hải A, sinh năm 1949 và bà Lưu Thị P1, sinh năm 1952; đều trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập liên quan đến kháng cáo: Bà Hà Thị M, sinh năm 1954; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
Theo đơn kháng cáo ngày 21 tháng 7 năm 2021, nguyên đơn ông Lê Văn N, bà Hà Thị Y, ông Hà Đức Đ (D), bà Phạm Thị P kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 14/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng bởi việc đình chỉ giải quyết vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
XÉT THẤY:
Theo đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn đề nghị: Tòa án xác định 96m2 đất ao, có tứ cận: phía Đông giáp ao bà Hà Thị M, phía Tây giáp ngõ thôn, phía Nam giáp ngõ xóm, phía Bắc giáp ao ông Đào Hải A tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình thuộc quyền sử dụng của các nguyên đơn; đề nghị Tòa án đo đạc, khảo sát và xác minh hiện trạng để đòi lại đủ cho các nguyên đơn 96m2 đất ao mà ông Đào Hải A và bà Lưu Thị P1 lấn chiếm; yêu cầu ông Đào Hải A, bà Lưu Thị P1 phải tháo dỡ bức tường đã xây lấn sang phần ranh giới đất ao của nguyên đơn; yêu cầu ông Âu, bà Phương phải chặt phá khóm tre đang trồng trên phần bờ giáp đường giao thông thuộc phần ao của các nguyên đơn. Đến ngày 27/5/2021, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị: Tòa án xác định nguyên đơn được Hợp tác xã Đông Hợp giao cho 96m2 ao và đã trừ 24m2 ruộng phần trăm của 2 gia đình; đồng thời đề nghị Tòa án xác định mốc giới của diện tích 96m2 của các nguyên đơn được hưởng.
Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 03/8/2020, bị đơn ông Đào Hải A và bà Lưu Thị P1 đề nghị Tòa án xác định diện tích đất ao mà mẹ ông là cụ Đ cho cụ N (mẹ ông Hà Đức Đ) thuê năm 1987 thuộc quyền thừa kế của ông Đào Hải A. Ngày 20/12/2020, ông Đào Hải A thay đổi yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết việc ông Phạm Hữu T (cán bộ xã) chia đất ao của cụ Đ cho bà N là đúng hay sai.
Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 11/01/2021, bà Hà Thị M đề nghị Tòa án xác định ranh giới của 96m2 ao của gia đình bà được Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Đông Hợp giao cho trong diện tích ao chung với các gia đình là ông Lê Văn N, Hà Đức Đ, Đào Hải A và bà Đặng Thị C.
Căn cứ đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đơn xin thay đổi yêu cầu phản tố của bị đơn và đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình nhận định:
1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Việc Hợp tác xã nông nghiệp xã Đông Hợp giao 96m2 ao cho các nguyên đơn được thể hiện trên sổ điều chỉnh đất phần trăm và sổ phương án thu sản phẩm hàng năm của Hợp tác xã. Khi giao đất ao cho các nguyên đơn, thì Hợp tác xã không đo đạc xác định mốc giới cụ thể trên thực địa. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án xác định mốc giới đối với diện tích đất ao được giao không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai.
2. Về yêu cầu phản tố của bị đơn: Ngày 14/7/2014, Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng có văn bản số 281/UBND-TNMT trả lời ông Đào Hải A về việc cụ Phạm Thị Đ đã trả ao và nhận đủ đất nông nghiệp theo hạn mức của địa phương; ao đã được giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước. Ông Đào Hải A đã nhận được công văn vào tháng 7/2014, nhưng đến nay đã quá thời hạn 01 năm ông A không khiếu nại, không khởi kiện đến Tòa án về nội dung công văn này. Đồng thời, các nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xác định yêu cầu phản tố của bị đơn là hết thời hiệu khởi kiện.
3. Về yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: đề nghị Tòa án xác định ranh giới diện tích 96m2 đất ao của gia đình bà M trong diện tích đất ao chung với các hộ gia đình khác tại thửa ao số 524, tờ bản đồ số 3, bản đồ 299 (nay là thửa số 76, tờ bản đồ số 4, bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2006), Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xác định yêu cầu độc lập của bà M không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai.
Tại phiên họp, nguyên đơn trình bày: Việc các nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và lý do kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ số 14/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
Bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không có ý kiến gì đối với Quyết định đình chỉ số 14/2021/QĐST-DS ngày 09/7/2021.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, thành viên Hội đồng phúc thẩm và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự theo quy định tại Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn N, bà Hà Thị Y, ông Hà Đức Đ (D), bà Phạm Thị P, giữ nguyên Quyết định đình chỉ số 14/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
Qua nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng phúc thẩm thấy: Việc ông Lê Văn N, bà Hà Thị Y, ông Hà Đức Đ (D), bà Phạm Thị P thay đổi yêu cầu khởi kiện, bị đơn thay đổi yêu cầu phản tố là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Do vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 192, Điều 184; điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị M không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và yêu cầu phản tố của bị đơn hết thời hiệu khởi kiện là đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Do các đồng nguyên đơn có 02 người trên 60 tuổi nên nguyên đơn được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 14/2021/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
2. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Văn N, bà Hà Thị Y, ông Hà Đức Đ (D), bà Phạm Thị P. Trả lại ông Lê Văn N, bà Hà Thị Y, ông Hà Đức Đ (D), bà Phạm Thị P 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002811 ngày 21 tháng 7 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 08/9/2021.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND, VKSND, THA h. Đông Hưng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp Đỗ Thị Hà |