vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 30/06/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 điều I Mục B Danh mục mức án phí, lệ phí kèm theo Nghị quyết.

Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Ngọc H về việc yêu cầu tuyên bố anh Kim Ngọc D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tuyên bố anh Kim Ngọc D, sinh năm 1973; HKTT: tổ 29 phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; số Căn cước công dân xxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Đỗ Thị Ngọc H - Kim Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 điều I Mục B Danh mục mức án phí, lệ phí kèm theo Nghị quyết.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/QĐST-VDSCầu Giấy, ngày 30 tháng 06 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Tô Thanh Tú

Thư ký phiên họp: Ông Trần Anh Quang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên họp: Ông Nghiêm Đình Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 06 năm 2020 , tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 53/2020/TLST-VDS ngày 07 tháng 05 năm 2020 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2020/QĐST-VDS ngày 23 tháng 06 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1942

HKTT: Tổ 29 phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

Hiện ở: Số 6 N5 H3, tập thể B, ngõ 445 đường L, phường X, quận T, thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên họp

- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Kim Ngọc D, sinh năm 1973

HKTT: Tổ 29 phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

Hiện đang điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên họp

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

*Tại Đơn yêu cầu ngày 07/3/2020, bản trình bày, các tài liệu khác có trong hồ sơ và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Đỗ Thị Ngọc Htrình bày:

Bà là mẹ của anh Kim Ngọc D, bố của anh Dương là ông Kim Quang B đã chết năm 2002. Năm 2000 anh D kết hôn với chị Trần Thị Mai H nhưng đến năm 2011 thì ly hôn. Sau thời gian ly hôn anh D có biểu hiện buồn phiền, tinh thần không ổn định. Từ năm 2012 đến năm 2018 anh D ở nhà cùng bà nhưng có nhiều biểu hiện không làm chủ nhận thức và hành vi, gây gổ với hàng xóm, bỏ nhà đi cả đêm lang thang. Từ năm 2018 đến nay anh D phải nhập viện điều trị nội trú tại Bệnh viên tâm thần Hà Nội. Nay để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh D cũng như để thực hiện được các giao dịch dân sự liên quan đến anh D, bà đề nghị Tòa án tuyên bố anh Kim Ngọc D mất năng lực hành vi dân sự. Bà xin nhận làm người giám hộ theo quy định của pháp luật cho anh Kim Ngọc D.

Ngày 19/6/2020 bà Đỗ Thị Ngọc H có đơn đề nghị thay đổi yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Kim Ngọc D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bà tiếp tục đề nghị được làm người giám hộ theo quy định pháp luật cho anh Kim Ngọc D.

*Chị Trần Thị Mai H trình bày: Chị và anh Kim Ngọc D trước đây là vợ chồng nhưng đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội từ năm 2011. Chị và anh D không có tài sản chung, chị không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ việc này.

*Chị Kim Ngọc Y trình bày: Chị là chị gái của anh Kim Ngọc D. Bố chị là ông Kim Quang B đã chết từ năm 2002, hiện anh D do mẹ chị là bà Đỗ Thị Ngọc H chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh D hiện không có vợ con. Chị đồng ý để bà H là người giám hộ cho anh D.

Ngày 09/6/2020 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã có Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với anh Kim Ngọc D tại Viện pháp y tâm thần trung ương đề nghị giám định khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Theo bản kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 49/KLGĐ của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận: Tại thời điểm giám định đối tượng Kim Ngọc D bị bệnh Tâm thần phân liệt thể Paranoid. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 thì bệnh có mã số F20.0. Bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi).

*Đại diện VKSND quận Cầu Giấy tham gia phiên họp trình bày quan điểm:

Quá trình thụ lý và giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán chủ tọa phiên họp, Thư ký phiên họp và các đương sự đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vị đại diện VKSND quận Cầu Giấy đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đỗ Thị Ngọc H: Tuyên bố anh Kim Ngọc D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Xác định bà Đỗ Thị Ngọc H (là mẹ đẻ anh D) là người giám hộ của anh Kim Ngọc D. Bà Đỗ Thị Ngọc H có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật dân sự khi làm người giám hộ cho anh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nhận định:(18)

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Kim Ngọc D có hộ khẩu thường trú tại tổ 29 phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Hiện anh D đang điều trị nội trú tại Bệnh viên tâm thần Hà Nội. Căn cứ khoản 1 điều 27, khoản 2 điều 35, điểm a khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy có thẩm quyền giải quyết việc yêu cầu.

Về quan hệ pháp luật: Tại Đơn yêu cầu ngày 07/3/2020 bà Đỗ Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Kim Ngọc D mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 19/6/2020 bà H có đơn thay đổi yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Kim Ngọc D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu của bà H không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu nên Tòa án căn cứ điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận xem xét yêu cầu thay đổi của bà Đỗ Thị Ngọc H.

Xét lời trình bày của người yêu cầu, tài liệu xác minh và kết luận của Viện pháp y tâm thần trung ương có cơ sở xác định anh Kim Ngọc D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Anh Kim Ngọc D có bố là ông Kim Quang B, mẹ là bà Đỗ Thị Ngọc H. Ông B đã chết năm 2002. Anh D đã ly hôn vợ và đến nay chưa kết hôn với ai và không có con. Bà Đỗ Thị Ngọc H đảm bảo các điều kiện về người giám hộ quy định tại điều 49 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, có căn cứ chỉ định bà Đỗ Thị Ngọc H là người giám hộ cho anh Kim Ngọc D theo khoản 3 điều 53; khoản 4 điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà Đỗ Thị Ngọc H có các quyền và nghĩa vụ theo chỉ định của Tòa án tại các điều 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí: Bà Đỗ Thị Ngọc H phải chịu lệ phí yêu cầu dân sự. Bà H sinh năm 1942 theo quy định của Luật người cao tuổi thì bà Hạt được xác định là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điều 23; 46; điểm d khoản 1 điều 47; điều 48; 49; khoản 3 điều 53; khoản 4 điều 54; điều 57; 58; 59 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 điều 27, khoản 2 điều 35, điểm a khoản 2 điều 39; điều 244; 366; 371; 372; khoản 1 điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Căn cứ khoản 1 điều 12; khoản 1 điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 điều I Mục B Danh mục mức án phí, lệ phí kèm theo Nghị quyết.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Ngọc H về việc yêu cầu tuyên bố anh Kim Ngọc D là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Tuyên bố anh Kim Ngọc D, sinh năm 1973; HKTT: tổ 29 phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; số Căn cước công dân xxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 08/10/2019 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Chỉ định bà Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1942; HKTT: tổ 26 phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Hiện ở: Số 6 N5 H3, tập thể B, ngõ 445 đường L, phường X, quận T, thành phố Hà Nội; số CMTND xxxx do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 05/7/2007 là người giám hộ cho anh Kim Ngọc D.

Bà Đỗ Thị Ngọc H có nghĩa vụ chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho anh Kim Ngọc D; Đại diện cho anh Kim Ngọc D trong các giao dịch dân sự; Quản lý tài sản của của anh D; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh D.

Bà Đỗ Thị Ngọc H có quyền sử dụng tài sản của anh Kim Ngọc D để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của anh D; Đại diện cho anh D trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh D.

Bà Đỗ Thị Ngọc H có trách nhiệm quản lý tài sản của anh Kim Ngọc D như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của anh D vì lợi ích của anh D.

2. Về lệ phí: Bà Đỗ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn nộp tiền lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Đỗ Thị Ngọc H có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ