vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 31/01/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Giang Ngọc H.

Tuyên bố: Anh Phạm Chí Nh, sinh năm 1980, nơi cư trú cuối cùng: Khóm Vĩnh Tiền, phường 3, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích. 2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Giang Ngọc H phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm chị H… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Chị H yêu cầu Tuyên bố anh Nh mất tích"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Giang Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/QĐST-VDSNgã Năm, ngày 31 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Mỹ Hạnh.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Quốc Huy - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Ông Trương Minh Diền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 102/2019/TLST-VDS ngày 21 tháng 6 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số số 01/2020/QĐST-VDS ngày 15 tháng 01 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Giang Ngọc H, sinh năm 1982 (Có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Chí Nh, sinh năm 1980 (Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Khóm Vĩnh T, phường A, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 28 tháng 3 năm 2019 và tại phiên họp chị Giang Ngọc H trình bày: Chị và anh Phạm Chí Nh chung sống với nhau từ năm 1999 nhưng đến năm 2008 anh chị mới đi đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh B (nay là thị Phường A), thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không còn tình cảm với nhau và cuộc sống không hạnh phúc, nên anh chị đã ly thân từ năm 2012 đến nay và đồng thời vào năm 2013 thì anh Nhân đã bỏ địa phương đi đến nay không có về địa phương và cũng không biết địa chỉ của anh Nh đang ở đâu, chị đã tìm đủ mọi cách để tìm kiếm nhưng không gặp, điện thoại cũng không liên lạc được, hiện nay cũng không ai biết anh Nh đang ở đâu.

Nay chị Giang Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố anh Anh Phạm Chí Nh, sinh năm 1980, địa chỉ: Khóm Vĩnh T, phường A, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích, để chị yêu cầu giải quyết xin ly hôn nhằm tạo cuộc sống mới cho mỗi người.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với người yêu cầu đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu chị Giang Ngọc H về việc yêu cầu anh Phạm Chí Nh mất tích vì theo xác nhận của ông Nguyễn Văn Chiến – Trưởng ban nhân dân khóm Vĩnh T đã xác nhận anh Phạm Chí Nh đã bỏ địa phương đi từ năm 2013 đến nay không về lại địa phương. Đồng thời, Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nhân và đã được công bố trên báo trung ương trong 03 số liên tiếp, đăng trên đài phát thanh truyền hình Sóc Trăng, phát sóng trên đài truyền hình trung ương trong 03 ngày liên tiếp là phù hợp với quy định tại Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc dân sự tuyên bố một người mất tích theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự; anh Phạm Chí Nh có địa chỉ cư trú cuối cùng tại Khóm Vĩnh T, phường A, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm thụ lý, giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị Giang Ngọc H và anh Phạm Chí Nh có đăng kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H, anh Nh chung sống với nhau tại khóm Vĩnh T, phường A, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Vợ chồng chị H sống chung được một thời gian thì anh Nhân đã bỏ địa phương đi từ năm 2013 đến nay không ai liên lạc được hay biết địa chỉ cụ thể của anh Nh ở đâu. Nay chị H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Chí Nh mất tích, về tài sản chị H không yêu cầu.

Theo xác nhận của của ông Nguyễn Văn Chiến – Trưởng ban nhân dân khóm Vĩnh T đã xác nhận anh Phạm Chí Nh đã bỏ địa phương đi từ năm 2013 đến nay không về lại địa phương. Trước khi đi thì anh Nh có sống tại Khóm Vĩnh Tiền, Phường A, thị xã Ngã Năm. Xét thấy, thời gian anh Nh bỏ địa phương đi đã 07 năm và trong thời gian giải quyết việc dân sự Tòa án cũng có ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú số 558/2019/TB-TA ngày 23 tháng 7 năm 2019 đối với anh Phạm Chí Nh, Quyết định này cũng đã được đăng trên báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp, đăng trên đài phát thanh truyền hình Sóc Trăng, phát sóng trên Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp và đã hết thời hạn thông báo mà vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Phạm Chí Nh còn sống hay đã chết. Vì vậy, chị Giang Ngọc H yêu cầu tuyên bố anh Phạm Chí Nh mất tích là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu chị Giang Ngọc H là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Giang Ngọc H phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 372 và Điều 385; điều 387; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Giang Ngọc H.

Tuyên bố: Anh Phạm Chí Nh, sinh năm 1980, nơi cư trú cuối cùng: Khóm Vĩnh Tiền, phường 3, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã mất tích.

2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Giang Ngọc H phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm chị Hân đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007130 ngày 21/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Chị H đã nộp xong lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3/ Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ra quyết định. Người vắng mặt tại phiên họp mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ