- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về con chung, chia tài sản khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa: Chị Tòng Thị X và anh Lù Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 02/2020/QĐST -HNGĐ | ngày 13 tháng 01 năm 2017 Mường Ảng, ngày 07 tháng 01 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” giữa:
Nguyên đơn: Chị Tòng Thị X, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Bản L, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Bị đơn: Anh Lù Văn T, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Bản L, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Căn cứ vào Điều 212, 213 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 55, 57, 58, 59, 62, 71, 81, 82, 83, 84 và Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 30 tháng 12 năm 2019.
XÉT THẤY
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 30 tháng 12 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành. Không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa: Chị Tòng Thị X và anh Lù Văn T.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự cụ thể nhƣ sau:
2.1. Về hôn nhân: Thuận tình ly hôn.
2.2. Về con chung: Chị Tòng Thị X và anh Lù Văn T có 02 người con chung là cháu Lù Hải Q, sinh ngày 31/10/2010 và cháu Lù Thị Huyền T1, sinh ngày 22/5/2013. Chị X và anh T đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau về việc giao nuôi con chung là: Chị X trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu Lù Hải Q và Lù Thị Huyền T1 cho đến khi cháu Q và cháu T1 đủ 18 tuổi. Anh T không cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị X.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Lù Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản anh T thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2.3. Về tài sản chung; tài sản riêng; nợ chung thu về; nợ chung phải trả:
- Về tài sản chung: Chị Tòng Thị X và anh Lù Văn T có tài sản chung gồm: 01 mảnh đất có diện tích là 475m2. Vị trí Bản L, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên và tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4 với tổng diện tích là 75m2, nhà được làm từ năm 2015. Anh chị đã thống nhất thỏa thuận chia cụ thể:
+) Chị Tòng Thị X được nhận: 01 mảnh đất có diện tích là 475m2. Vị trí tại Bản L, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên có tứ cận liền kề là: Phía Đông giáp nhà ông Lò Văn N, phía Bắc giáp với suối T2, phía Nam giáp với nhà ông Lò Văn T3, phía Tây giáp với nhà ông Lò Văn D, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4 với tổng diện tích là 75m2, nhà được làm từ năm 2015. Trị giá mảnh đất và ngôi nhà là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Chị Tòng Thị X nhận nhà, đất và có trách nhiệm trả cho anh Lù Văn T 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản chị Tòng Thị X được nhận là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
+) Anh Lù Văn T được nhận: 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) là
½ giá trị tài sản chung của vợ chồng (Gồm 01 mảnh đất và 01 ngôi nhà gắn liền trên đất - Chị Tòng Thị X nhận nhà, đất và có trách nhiệm trả cho anh Lù Văn T 200.000.000 đồng).
Tổng giá trị tài sản anh Lù Văn T nhận được là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
- Về nợ chung phải trả: Chị Tòng Thị X và anh Lù Văn T có nợ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện M, tỉnh Điện Biên với tổng số tiền là 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng). Anh chị thống nhất trả nợ chung như sau: Chị Tòng Thị X có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện M, tỉnh Điện Biên. Anh Lù Văn T không phải trả nợ cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Về tài sản riêng, nợ chung thu về: Chị X và anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.4. Về án phí: Chị Tòng Thị X và anh Lù Văn T thỏa thuận, thống nhất mỗi người tự nguyện chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 5.000.000đ (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng chị X và anh T là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên anh chị được miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cùng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS Mường Ảng; - UBND xã Ẳ; - Các đương sự; - Người BVQ$LIHP cho đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phan Ích Rồng |