vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Huỳnh Thị Trường - Trần Văn Tiện"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02 /2020/QĐST-DSĐức Phổ, ngày 25 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hậu

Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Minh Ngân – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 90/ 2019/TLST – DS ngày 02 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2020/QĐST- DS ngày 12 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1954.

Trú tại: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1940.

Nơi cứ trú cuối cùng: thôn V, xã P, huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi.

Tại phiên họp bà T có mặt; ông T vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Huỳnh Thị T trình bày: ông Trần Văn T là chồng bà Huỳnh Thị T, vào ngày 25/02/1995 ông T cùng 8 thuyền viên trên tàu cá mang số hiệu BĐ – 0608 – TS II xuất phát từ biển Tam Quan di chuyển đến ngư trường miền bắc thuộc các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh để đánh bắc hải sản (câu mực), trên tàu có 08 lao động

1

gồm: Lê Trung H, Trần Văn T, Võ Văn A, Võ Văn P, Trần Văn T, Trần T, Trần Văn K và Phương Công B, tàu do ông Lê Trung H, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Định làm thuyền trưởng. Trong khoản thời gian xuất bến đến ngày 27 tháng 02 năm 1995 thì gặp thời tiết xấu, áp thấp nhiệt đới cộng gió mùa, tàu bị hư hỏng nặng và bị sóng đánh chìm tàu và người. Sau khi nghe tin sự việc, bà và gia đình đã tìm kiếm tàu cá BĐ – 0608 – TS II và 08 lao động nhưng không có tin tức gì về ông Trần Văn T. Nay bà Huỳnh Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn T là đã chết. Ngoài ra bà không yêu cầu nội dung nào khác.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Về chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Thư ký phiên họp: Thẩm phán thụ lý việc dân sự, thu thập chứng cứ, giao văn bản tố tụng, niêm yết văn bản tố tụng và Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Thư ký phiên họp tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà Huỳnh Thị T, tuyên bố ông Trần Văn T là đã chết.

NHAÄN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Huỳnh Thị T là vợ ông Trần Văn T có đơn yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn T, sinh năm 1940; có nơi cứ trú cuối cùng: thôn V, xã P, huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi là đã chết. Theo quy định tại khoản 4 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Về nội dung:

Vào ngày 25/02/1995 ông Trần Văn T cùng 8 lao động trên tàu cá mang số hiệu BĐ – 0608 – TS II gồm: Lê Trung H, Trần Văn T, Võ Văn A, Võ Văn P, Trần Văn T, Trần T, Trần Văn K và Phương Công B xuất phát từ biển Tam Quan di chuyển ra ngư trường các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh để đánh bắc hải sản (câu

2

mực), trong thời gian xuất bến đến ngày 27 tháng 02 năm 1995 thì gặp áp thấp nhiệt đới cộng gió mùa, tàu bị hư hỏng nặng và bị sóng đánh chìm. Từ ngày nghe tin sự việc xãy ra, bà T và gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về ông Trần Văn T, sự việc đã được Ủy ban nhân dân xã Phổ Châu và Đồn biên phòng Tam Quan Nam, tỉnh Bình Định xác nhận. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã đăng thông báo nhắn tin tìm kiếm ông Trần Văn T trên Báo Công lý và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam nhưng vẫn không có thông tin gì về ông Trần Văn T. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự thì trường hợp người bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm kể từ ngày tai nạn nạn hoặc thảm họa, thiên tai vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Như vậy, có căn cứ xác định ông Trần Văn T bị tai nạn từ ngày 27/02/1995 đến nay đã hơn hai năm nhưng vẫn không có tin tức xác thực là còn sống nên bà Huỳnh Thị T yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn T là đã chết là đúng pháp luật được Tòa án chấp nhận.

[6] Về lệ phí: bà Huỳnh Thị T thuộc trường hợp được miễn.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thì xã Đức Phổ phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYEÁT ÑÒNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 370, 371, 372 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận đơn yêu cầu của Huỳnh Thị T.

Tuyên bố ông Trần Văn T, sinh năm 1940 đã chết vào ngày 27 tháng 02 năm 1995.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Huỳnh Thị T thuộc trường hợp được miễn nên không phải nôp.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Huỳnh Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

3

Cỡ chữ