vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-DS — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Tố L về việc yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản.

Lệ phí: Bà Phạm Tố L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000083 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Kháng cáo, k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "CHẤP NHẬN CHO NGƯỜI YÊU CÀU"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Tố L về việc yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 221 Bộ luật Dân sự; Điều 223 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/QĐST-DSĐiện Biên Phủ, ngày 26 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Nhung;

Thư ký phiên họp: Bà Quàng Thị Thu;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh L - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại phòng họp Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ L số 05/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2020; về việc: Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Tố L; địa chỉ: Tổ dân phố 10, phường M, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B; địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố Đ, tỉnh B; Người đại diện theo pháp luật: bà Dương Thị Kim L

- Chấp hành viên và là Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B

- Có mặt;

2.2 Ông Đỗ Cao H (Chồng bà L); địa chỉ: Tổ dân phố 10, phường M, thành phố Đ, tỉnh B; người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Cao H: Bà Phạm Tố L; địa chỉ: Tổ dân phố 10, phường M, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.3 Ông Phan Thanh T; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường T, thành phố Đ, tỉnh B; người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Thanh T; bà Đinh Thị Thanh B; cùng địa chỉ trên - Có mặt;

2.4 Bà Đinh Thị Thanh B; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường T, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.5 Ông Lưu Huy Th; địa chỉ: Đội 4A, xã P, huyện Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.6 Ông Hà Lê Kiên T; địa chỉ: Số nhà 39A, tổ dân phố 06, phường T thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.7 Bà Lưu Thị L; địa chỉ: Tổ dân phố 09, phường N, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.8 Bà Lưu Thị Th; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường M, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt.

- Nội dung yêu cầu: Yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản đối với xe ô tô hiệu TOYOTA biển kiểm soát 27A - 035.39 do Công an tỉnh Điện Biên cấp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Tại đơn yêu cầu ngày 21/3/2020 và quá trình giải quyết việc dân sự bà Phạm Tố L trình bầy:

Ngày 28/11/2019 vợ chồng bà Phạm Tố L và ông Đỗ Cao H nhận chuyển nhượng xe ô tô hiệu TOYOTA biển kiểm soát 27A - 035.39 của vợ chồng ông Phan Thanh T và bà Đinh Thị Thanh B với giá 420.000.000 đồng. Cùng ngày hai bên lập Hợp đồng mua bán xe, hợp đồng này được công chứng tại phòng công chứng Điện Biên, số công chứng 949/2019, quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2019. Trước đó xe ô tô nói trên được ông T và bà B thế chấp tại Agribank chi nhánh huyện Đ để vay tiền. Bà L đã đưa cho ông T, bà B 320.000.000 đồng trả Ngân hàng để lấy giấy tờ xe ra và làm hợp đồng mua bán xe. Còn 100.000.000 đồng bà L trừ vào nợ của ông T, bà B với bà L, nên trong hợp đồng hai bên thỏa thuận ghi giá chuyển nhượng xe là 100.000.000 đồng.

Bà L đã nhận xe, nhưng xe đang trong tình trạng hỏng hóc, không đảm bảo lưu thông trên đường nên bà L phải đem đi để sửa, nhằm đảm bảo an toàn khi sử dụng xe. Đầu tháng 5 năm 2020 bà L đến phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Điện Biên để đăng ký quyền sở hữu xe thì được biết, ngày 14/02/2020 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ đã ban hành quyết định về việc tạm ngừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng đối với xe ô tô bà L đã mua, nên bà L không đăng ký quyền sở hữu xe được. Bà L có hỏi, thì anh T và chị B nói không được biết quyết định này. Vì vậy bà L yêu cầu Tòa án xác định xe ô tô hiệu TOYOTA biển kiểm soát 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà L.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bầy:

2.1 Bà Dương Thị Kim L: Chi cục thi hành án dân sự đã có văn bản số 528/CCTHADS-NV ngày 02/6/2020 gửi cho Tòa án. Theo các quyết định thi hành án số 581/QĐ-CCTHADS và 582/QĐ-CCTHADS ngày 19/7/2020; số 587/QĐ-CCTHADS và 88/QĐ-CCTHADS ngày 30/10/2019 và số 387/QĐ-CCTHADS ngày 18/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ thì ông Phan Thanh T phải thi hành các khoản tiền sau: Trả cho bà Lưu Thị L 408.000.000 đồng và nộp 5.080.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; trả cho ông Lưu Huy Th 353.500.000 đồng và nộp 4.418.750 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; trả cho ông Hà Lê Kiên T 1.400.000.000 đồng và nộp 13.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; trả cho bà Lưu Thị Th 270.000.000 đồng và nộp 3.375.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Chi cục thi hành án dân sự đã tiến hành xác minh và xác định ông T, bà B có tài sản chung là xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39, đăng ký xe mang tên ông Phan Thanh T. Xe ô tô này ông T và bà B đã chuyển nhượng cho bà Phạm Tố L, hợp đồng chuyển nhượng xe được công chứng tại phòng công chứng Điện Biên, nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu tại cơ quan có thẩm quyền. Ngày 14/02/2020, Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ đã ban hành quyết định số 22/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng đối với xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 (Như bản ảnh bà L cung cấp cho Tòa) và thông báo cho ông T, bà B. Qua xác minh thực tế thì xe ô tô trên, ông T, bà B đã thế chấp để vay tiền tại Agribank chi nhánh huyện Điện Biên; bà L đã trả nợ thay cho ông T và bà B số tiền 319.397.261 đồng để lấy xe ô tô ra và thực hiện việc chuyển nhượng tại phòng công chứng Điện Biên. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu của bà L theo quy định của pháp luật.

2.2 Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Cao H, bà Phạm Tố L: Ông H đồng ý với yêu cầu của bà L và không có ý kiến gì khác.

2.3 Ông Phan Thanh T và bà Đinh Thị B cùng có ý kiến: Ông T và bà B kết hôn năm 2014, xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 là tài sản chung của ông T và bà B. Ngày 28/11/2019 vợ chồng bà L, ông H nhận chuyển nhượng xe ô tô này của ông T, bà B với giá 420.000.000 đồng; hai bên có làm hợp đồng mua bán xe như bà L đã trình bầy. Trước đó, ông T và bà B đã thế chấp xe để vay tiền Agribank chi nhánh huyện Điện Biên; bà L đã đưa 320.000.000 đồng để ông T, bà B trả nợ, còn lại 100.000.000 đồng trừ nợ của ông T, bà B với bà L. Khi bà L hỏi ông T, bà B về việc xe ô tô bà L mua bị Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ ban hành quyết định tạm ngừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng thì ông T, bà B mới biết. Ngày 30/3/2020 ông T và bà B nhận được thông báo số 407/CCTHADS-NV ngày 30/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự về việc xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án cho các khoản tiền ông T nợ bà Th, bà L, ông T, ông Th. Ông T, bà B không nói cho bà L biết việc này. Những khoản tiền nợ này là ông T nợ để kinh doanh riêng, nhưng không đăng ký kinh doanh; bà B không biết việc nợ tiền này, tiền nợ không sử dụng vào nhu cầu thiết yếu của gia đình. Riêng khoản tiền 1.400.000.000 đồng ông T phải trả ông T theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/5/2019, đây là khoản tiền nợ theo 03 giấy vay tiền giữa ông T và ông T; bà B viết hợp đồng đặt cọc nhưng không được nhận tiền; do không thỏa thuận được nên bà B chưa ký vào các tờ rời của hợp đồng và đã hủy đi, vì vậy hợp đồng đặt cọc ông T khởi kiện chỉ có chữ ký bà B ở một tờ A4 không có nội dung về tiền đặt cọc; cũng vì vậy ông T và ông T mới thỏa thuận chỉ có ông T trả tiền cho ông T.

Ông T và bà B đồng ý với yêu cầu của bà L về việc xác định xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà L.

2.3 Ông Lưu Huy Th và bà Lưu Thị L cùng có ý kiến: Khi ông Th và bà L cho ông T vay tiền thì xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 vẫn thuộc quyền sở hữu của ông T. Theo quyết định của Tòa án thì ông T phải trả cho ông Th 353.500.000 đồng, trả cho bà L 408.000.000 đồng. Những khoản nợ này bà B là vợ ông T cũng biết, nhưng do tin tưởng ông Th, bà L không yêu cầu bà B ký giấy vào giấy vay nên không có chứng cứ xuất trình cho Tòa án. Ông Th, bà L không đồng ý với yêu cầu của bà L về việc xác định xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà L.

2.4 Ông Hà Lê Kiên T: Ông T không đồng ý với yêu cầu của bà L về việc xác định xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà L. Xe ô tô này thuộc quyền sở hữu của ông T. Khi ông T vay tiền ông T, bà B cũng biết và cũng đồng ý trả nợ cho ông T. Số tiền 1.400.000.000 đồng tại hợp đồng đặt cọc được cộng từ ba giấy nợ giữa ông T và ông T trước đó, nên không giao tiền khi làm hợp đồng đặt cọc; bà B là người viết hợp đồng nên không thể không biết; các bên ký vào các tờ rời của hợp đồng là do chủ quan, tin tưởng nhau.

2.5 Bà Lưu Thị Th: Khoản tiền bà Th cho ông T vay bà B không biết. Bà Th đồng ý với yêu cầu của bà L; xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà L.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thu thập hợp pháp; Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự. Yêu cầu về việc xác định xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà Trần Tố L là có căn cứ theo các điều luật có liên quan của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền: Yêu cầu của bà Trần Tố L về việc xác định quyền sở hữu tài sản đối với xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39, bị Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo khoản 9 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm n khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 69 của luật thi hành án dân sự.

Về việc thụ L yêu cầu: Ngày 21/5/2020 bà Phạm Tố L nộp cho Tòa án đơn yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản đối với xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39; ngày 24/5/2020 bà L nộp cho Tòa án biên lai thu tạm ứng lệ phí; ngày 25/5/2020 Tòa án đã thụ L yêu cầu của bà L theo Điều 363 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Ơ]

Về yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản của bà Phạm Tố L:

Xe ô tô biển kiểm soát 27A - 035.39 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô ngày 09/9/2017 của Công an tỉnh Điện Biên) là tài sản chung của ông Phan Thanh T và bà Đinh Thị Thanh B có trong thời ký hôn nhân; ông T và bà B có quyền ngang nhau về tài sản này theo Điều 29 LHN &GĐ. Ngày 28/11/2019 ông T và bà B đã ký hợp đồng chuyển nhượng xe ô tô cho bà Phạm Tố L theo Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình; hợp đồng được công chứng tại phòng công chứng Điện Biên, đảm bảo theo Điều 430 BLDS và có hiệu lực pháp luật theo Điều 401 BLDS. Bà L đã nhận xe để sửa chữa, sử dụng từ đó đến nay mà không biết việc ông T đang phải thi hành các quyết định của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Việc chuyển nhượng xe được thực hiện trước ngày Chi cục thi hành án dân sự ban hành quyết định về việc tạm ngừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng đối với xe ô tô. Bà L chỉ được biết việc này khi đi đăng ký sở hữu xe. Quyền sử dụng xe ô tô 27A - 035.39 của ông T, bà B đã chấm dứt theo khoản 1 Điều 237 BLDS. Trước khi chuyển nhượng xe cho bà L, ông T và bà B đã thế chấp xe ô tô nói trên để vay tiền Ngân hàng; ông T và bà B đã nhận tiền của bà L, trả nợ Ngân hàng và giải chấp xe trước khi nhận chuyển nhượng cho bà L. Mặt khác, khoản nợ của ông T phải trả cho ông T, bà Th, bà L và ông Th không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình ông T, bà B nên bà B không có nghĩa vụ phải trả theo khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu xác định xe ô tô 27A - 035.39 thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Tố L theo khoản 2 Điều 221 và Điều 223 BLDS.

Bà Phạm Tố L phải chịu lệ phí giải quyết yêu cầu theo Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 9 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm n khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 69 của Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ vào Điều 29, Điều 35 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 221, Điều 223, Điều 430 và Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 BLTTDS; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Tố L về việc yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản. Tuyên bố Xe ô tô hiệu TOYOTA biển kiểm soát 27A - 035.39 do Công an tỉnh Điện Biên cấp thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Tố L.

2. Lệ phí: Bà Phạm Tố L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000083 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

3. Kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ