- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H.
- Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02 /2020/QĐ-TA | Phong Điền, ngày 23 tháng 4 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
__________
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Trường.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 30 tháng 3 năm 2020, Thông báo ấn định lại thời gian mở phiên họp ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc H; giới tính: Nam.
Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1988.
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12.
Nguyên quán: Xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: Không ổn định.
Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự.
Con ông: Nguyễn C và bà: Hoàng Thị L.
Hiện đang bị quản lý tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đình N, chức vụ: Phó Trưởng phòng, Phòng Lao động, Thương binh và xã hội huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế: Bà Nguyễn Thị P, Kiểm sát viên.
3. Đại diện cơ quan lập hồ sơ: Ông Nguyễn Tiến D, Trưởng Công an xã Đ.
4. Bà Nguyễn Thị Hoàng N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; là vợ của ông H.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có có trong hồ sơ, đã được kiểm tra tại phiên họp công khai:
Nguyễn Ngọc H là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2018, loại ma túy tổng hợp (methamphetamine), không có nơi cư trú ổn định. Ngày 15-5-2019, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định số: 23/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 06 tháng. Sau khi chấp hành xong ngày 25-11-2019, H vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy. Ngày 09-3-2020, Công an xã Đ lập biên bản vi phạm hành chính đối với H về hành vi sử dụng chất ma túy trái phép. Kết quả xét nghiệm Nguyễn Ngọc H dương tính với chất ma túy theo Phiếu xét nghiệm và Phiếu trả lời kết quả của Bệnh viện Tâm thần H thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngày 17-3-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ có Quyết định số: 88/QĐ-UBND đưa người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế để quản lý, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H.
Ngày 23-3-2020, Phòng Tư pháp huyện Phong Điền có Thông báo số: 02/TB-TA kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H là đảm bảo tính pháp lý.
Ngày 24-3-2020, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền có Văn bản số: 40/LĐTBXH-TNXH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H, thời hạn 24 tháng.
Người đại diện cơ quan lập hồ sơ trình bày: Nguyễn Ngọc H mặc dù có hộ khẩu thường trú nhưng Công an xã Đ đã xác minh nhiều lần với sự xác nhận của đại diện gia đình vẫn không xác định được H ở đâu, làm gì. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Thông tư số: 05/2018/TT-BCA ngày 07-02-2018 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan lập hồ sơ, cơ quan đề nghị thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ. Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Tòa án chấp nhận, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở ý kiến của cơ quan đề nghị, người tham gia phiên họp và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp,
XÉT THẤY:
Nguyễn Ngọc H là người sử dụng chất ma túy trái phép. Công an xã Đ đã xác minh nhiều lần nhưng H thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định. Ngày 09-3-2020, Công an xã Đ lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan y tế có thẩm quyền đã xét nghiệm H dương tính với chất ma túy.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định Nguyễn Ngọc H là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 2 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đảm bảo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được lập đúng quy định tại các Điều 103 và 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về tính chất, mức độ vi phạm: Nguyễn Ngọc H nhận thức được việc sử dụng trái phép chất mà túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, cuộc sống gia đình; gây mất trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các hành vi vi phạm, tội phạm nhưng vẫn sử dụng; đã được áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc vào năm 2019 nhưng vẫn không cai nghiện được mà mức độ càng nặng hơn. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc giúp H với thời hạn dài hơn để H cai nghiện, ổn định sức khỏe, lao động, học nghề nhằm hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích là cần thiết, phù hợp quy định của pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nguyễn Ngọc H phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết giảm nhẹ.
Ý kiến của người đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào các Điều 17, 19, 20, 22, 23, 30 và 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 7; Điều 95; khoản 1 Điều 96; các Điều 103, 104 và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 2 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30-12-2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 tháng, kể từ ngày người bị đề nghị bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ tại số 55 đường C, phường H, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; trường hợp vắng mặt thì kể từ ngày nhận được quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với cơ quan lập hồ sơ áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phong Điền; - Phòng LĐ, TB&XH huyện Phong Điền; - Công an huyện Phong Điền; - Trung tâm BTXH tỉnh Thừa Thiên Huế; - UBND xã Đ; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trần Văn Trường |