vanban.org

Quyết định 02/2020/HSST-QĐ — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Tuyên án 07/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị can: Phan Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 6 năm 1991; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm Yên H, xã Đô T, huyện Yên T, tỉnh N A; nghề nghiệp: Không ổn định.

Bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo điểm i khoản 2 Điều 244 của Bộ luật hình sự; Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẢ HỒ SƠ PHAN VĂN HÀ - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị can: Phan Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 6 năm 1991; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm Yên H, xã Đô T, huyện Yên T, tỉnh N A; nghề nghiệp: Không ổn định.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYÊN NGỌC HỒI
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/HSST-QĐNgọc Hồi, ngày 07 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM

Căn cứ các điều 45, 277 và 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020; đối với bị cáo: Phan Văn Hà;

Bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo điểm i khoản 2 Điều 244 của Bộ luật hình sự;

Xét thấy: Có căn cứ cho rằng có đồng phạm khác;

QUYẾT ĐỊNH:

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị can: Phan Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 6 năm 1991; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm Yên H, xã Đô T, huyện Yên T, tỉnh N A; nghề nghiệp: Không ổn định.

Bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo điểm i khoản 2 Điều 244 của Bộ luật hình sự;

Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây

1. Về nội dung vụ án;

- Nội dung dẫn tới yêu cầu điều tra: Vợ chồng Hoàng Thế Q, Mạnh Thị Thùy; hộ khẩu thường trú; cùng địa chỉ: Xóm 6, xã Hưng Xá, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An mua xe ôtô hiệu TOYOTA HILUX bán tải biển kiểm soát 37C 25373 giá 830 triệu đồng, có lúc lại khai 800 triệu đồng (BL số: 235); Mạnh Thị Thùy là người đứng tên chủ sử hữu xe, Thùy giao xe cho Q vào Ngọc Hồi Kon Tum để làm ăn; Q thuê nhà tại thôn Chiên Chiết, xã Đăk Xú – Ngọc Hồi-Kon Tum ở để làm ăn; phía dưới hàng nghế sau của xe Q độ chế một (Ngăn Hầm) khoang chứa hàng bí mật có kích thước (30cm x 40cm x 170cm) mục đích là để chứa hàng lậu, chủ yếu là gỗ quý chở từ nước Lào về Việt Nam. Ngày 29/11/2019 Q cho Trần Văn B thuê xe để sang Lào buôn gỗ; việc cho thuê không bàn giao tình trạng của xe, giấy tờ xe; một mình B quản lý, sử dụng xe ôtô bán tải kiểm soát 37C 25373 từ 29/11/2019 đến buổi chiều ngày 03/12/2019. Sáng ngày 03/12/2019 Hoàng Thế Q đi sang Lào gặp B một số người quen khác ăn nhậu tại km 52, khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày Q đến Gara sửa xe của anh Nam tại thị trấn huyện Mường Cầu, tỉnh Át ta Pư và ngủ tại đây cùng Trần Văn B (BL số 290) chiều ngày 03/12/2019 Q lấy xe từ B đi đâu B không biết; từ khi mượn xe chỉ một mình B sử dụng “có Q sử dụng” - BL số 291). H Khai: Sáng ngày 04/12/2019 H và H1 sang nước Lào bằng xe của H1, sang Lào để mua gỗ, chưa mua được gỗ H1 để xe ở bên Lào; Khoảng 12 giờ trưa ngày 04/12/2019 khi H1, H, Q đi cùng trên xe của Q, H1 lái đi ngang quán chị Tâm tại km 52 thì dừng lại xuống xe uống nước, Q lấy xe đi đâu làm gì không ai biết? khoảng 10 phút sau quay lại (BL số 279); H1 khai Q đi khoảng 20 phút (BL số 285). Tại kết luận điều tra cũng ghi: Q nói với H “Xe anh không có tran sít” nhờ H điều khiển xe về Việt Nam (BL số 376); tại Cáo trạng cũng ghi: H khai “Tại ngã ba cây số 100, Q nói với H “Xe anh không có tran sít” nhờ H điều khiển xe về Việt Nam.

Biên bản đối chất Hoàng Thế Q và Trần Văn B; Q khẳng định ngày 29/11/2019 trước khi cho B thuê xe, xe gắn BKS 37C-25373- B thuê xe không kiểm tra biển số xe. Trước khi thuê xe B có biết xe có khoang bí mật chứa hàng bí mật (BL số 326).

Lời khai của Phan Văn P SN 1993: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/12/2019 Phan Văn P gửi động vật vào trong xe nhưng Q không cho vì “Sợ hôi” (BL số 293, 294, 298);

Chị Phan Thị Thanh P1, NS: 1984, khai: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/12/2019 nhìn thấy H1 và H cùng ra xe của Q và thấy L nói chuyện với H và nhìn thấy L bỏ túi hàng lên xe (BL số 309); P1 khai khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/12/2019 nhìn thấy thấy L cầm túi bóng đồ đi lại gần sát H còn ai bỏ lên thùng xe thì không biết; khoảng cách P1 và L + H là khoảng 5m (BL số 324).

Chị Phan Thị Thanh P2, NS: 1990, khai: Khoảng hơn 13giờ 00 phút ngày 04/12/2019 nhìn thấy H ngồi uống nước còn Q điều khiển xe đi đâu thì không biết; L đến nói với H “Có con hàng gởi dùm” được hiểu là con Tê Tê, H và L nói chuyện cách chị P2 3m đến 4 m; sau đó P đi còn L có gửi hay không thì P2 không biết (BL số 311). Biên bản đối chất; Phan Văn H và Phan Thị Thanh P2: Khẳng định là L có gửi con Tê Tê lên xe.

Nguyễn Văn L, khai: Nguyễn Văn L có xin số điện thoại của Phan Văn H, có nhắn tin cho H (BL số 218, 303); Biên bản đối chất giữa Nguyễn Văn L và H; L khẳng định khoảng 14 giờ L đi ngang quán chị Tâm tại km 52 có thấy H nhưng L không gửi hàng gì hết (BL số 322). Biên bản đối chất giữa Nguyễn Văn L và Phan Thị Thanh P1; chị P1 khẳng định L có cầm túi bóng đi đến sát H và nói chuyện còn L đưa túi bóng cho H hay L bỏ túi bóng lên xe thì chị không để ý; sau đó thì (P) đem túi bóng đến gửi cho H. Còn L thì không công nhận (BL số 324). Biên bản đối chất giữa Nguyễn Văn L và Phan Thị Thanh P2; chị P2 khẳng định: L nói với H “Có con hàng gửi” ý nói con Tê Tê; sau đó P2 còn khuyên H không chở; còn L thì không công nhận (BL 330).

Biên bản đối chất Giữa H và B; H không công nhận có cùng B đi mượn hoặc thuê xe của Q (BL số 328); Biên bản đối chất Giữa H và Q; H không công nhận cùng B đi mượn hoặc thuê xe của Q; H không biết xe có độ chế khoang chứa hàng bí mật. Còn Q thì cho là Hà biết (BL số 332).

Biên bản nhận dạng (BL số 334) thì Roãn Văn H1 nhận ra L. Biên bản nhận dạng (BL số 337) thì Hoàng Thế Q nhận ra L.

Phan Văn H, sinh ngày 26/6/1991; quê quán: xã huyện Yên T-Nghệ A, H tạm trú tại xã Đăk Xú – Ngọc Hồi- Kon Tum để sang Lào buôn bán gỗ lậu; khoảng 8 giờ sáng ngày 04/12/2019 Hà cùng Roãn Văn H1 cư trú tại thôn Ngọc Tiền, xã Đăk Xú – Ngọc Hồi- Kon Tum đi sang Lào bằng xe ô tô của H1 làm, buôn gỗ lậu khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày H và H1 đến thị trấn huyện Mường Cầu, tỉnh Át ta Pư (BL số 285) trên đường về Việt Nam Q nhờ H1 lái xe, trên xe có cả H; đến cây số km100 H1 xuống xe, bắt xe về Việt Nam; Q rủ H vào Văn Tách hỏi (gỗ) tức hỏi để mua đi được khoảng 2 km Q điện thoại và nói không liên lạc được mối gỗ và quay xe ra đường chính để về Việt Nam, tại km 100 Q nói với H “Xe anh không có tran sít” nhờ H điều khiển xe về Việt Nam; H dừng xe lại Q đón được xe về Việt Nam đi được khoảng 30 phút sau thì H điều khiển xe của Q về và bị bắt tại địa phận xã Pờ Y. Do lực lượng chức năng khám xe thu được 01 con Tê Tê nặng 08 kg là Động vật rừng nguy cấp quý hiếm thuộc nhom IB; tại khoang hàng (Độ chế) bí mật còn thu được 134,6 kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ và 6,6 kg pháo nổ.

Cơ quan chức năng ra Quyết định tách hành vi vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 BLHS (134,6 kg + 6,6 kg) pháo nổ ra; không giải quyết cùng hành vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm Điều 244 BLHS (01 con Tê Tê).

Theo Cáo trạng Phan Văn H bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 244; với tình tiết định khung tăng nặng “Vận chuyển qua biên giới”.

Việc cơ quan chức năng tách hành vi vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 BLHS để giải quyết riêng; hành vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm giải quyết riêng trong khi hai loại hàng cấm này cùng được vận chuyển trên một xe, một người điều khiển là không giải quyết được toàn diện, kịp thời được vụ án; theo quy định, tòa án trả hồ sơ vụ án chứ không phải trả cáo trạng nên tòa án cần có ý kiến về việc này. Đối với hành vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm, thấy còn có các vấn đề chưa rõ cần điều tra để làm rõ.

- Yêu cầu điều tra:

1. Phan Văn H có phải là người sở hữu, quản lý sử dụng xe ôtô hiệu TOYOTA HILUX bán tải biển kiểm soát 37C 25373; khi bị bắt lắp biển số giả 82C – 03859 trùng với biển số xe của phòng VHTT huyện Ngọc Hồi tại thời điểm mà Phan Văn P và nghi là có cả Nguyễn Văn L gửi động vật rừng lên xe không?

2. Nếu không có động cơ mục đích chở hàng lậu (gỗ, pháo,…) thì tại sao? Hoàng Thế Q lại phải độ chế khoang chứa hàng bí mật trong xe.

3. Chỉ có B thuê hoặc mượn xe của Q; cho thuê hoặc cho mượn xe có giá trị lớn thủ tục Q và B phải làm những gì? Không làm đúng thủ tục cho thê cho mợn xe thì ai chịu trách nhiệm?

4. B làm thủ tục giao trả xe cho Q vào thời điểm nào? Q nhận lại xe có kiểm tra khoang chứa hàng bí mật không? Có phát hiện hàng hóa gì trong xe không? Q có hai khoảng thời gian sử dụng xe một mình bên Lào cần điều tra Q đi đâu? Gặp ai? Làm gì?

5. Quang không làm đúng thủ tục nhận lại xe, trên xe có chứa hàng cấm ai chịu trách nhiệm?

6. Chỉ có Hoàng Thế Q và Trần Văn B biết trên xe có khoang chứa hàng bí mật vậy ai là người bỏ pháo vào trong khoang chứa hàng bí mật?

7. Cần làm rõ khi Q nhờ H điều khiển xe về Việt Nam Q có mở khoang chứa hàng bí mật ra để bàn giao với H không? Vì Q cho là H biết xe có khoang chứa hàng bí mật (Chứa 141,2 kg pháo), có bàn giao với H về việc trên xe có những động vật gì không? Trách nhiệm không kiểm tra, bàn giao ai chịu?.

8. Nếu tại thời điểm này Hoàng Thế Q không phải là sở hữu, quản lý sử dụng xe ôtô thì tại sao? Q không cho Phan Văn P gửi động vật vào trong xe vì “Sợ hôi”.

9. Cơ quan chức năng cũng công nhận Phan Văn H không mượn, không thuê xe của Q; cần làm rõ H có quyền cho người khác gửi đồ (hàng) không? H có phải chụi trách nhiệm kiểm tra hàng trước lúc cho gửi không?

10. Có nhiều nhân chứng nhìn thấy L gửi hàng, L không nhận có gửi hàng thì cơ quan chức năng cho là L không gửi hàng lên xe (Tê Tê); vậy làm sao? có thể suy đoán, sau khi Q xuống xe về Việt Nam trước, H điều khiển xe về sau có thể sẽ bỏ con Tê Tê lên xe?

11. H là người bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi do bị động kinh mãn tính; thì có khả năng lừa dối người khác hơn người có khả năng nhận thức bình thường không?

12. Xe của Q không (tran sít) có ảnh hưởng gì đến việc H điều khiển xe qua cửa khẩu mà trên xe có chở Q không? Tại sao Q không ngồi trên xe để cùng về Việt Nam với H mà lại xuống xe, bắt xe đò về trước, lại nói H: Sau 30 phút thì mới điều khiển xe về sau?

13. Cần phải điều tra làm rõ Q nhờ H điều khiển xe về Việt Nam (Giả sử xe không bị bắt) thì H phải dừng xe ở địa chỉ nào? Gặp ai, giao xe cho ai? Ngoài ra còn nhờ H làm việc gì nữa không?

14. Cần làm rõ Q có hợp đồng với H để H làm phụ xe không? Nếu có hình thức hợp đồng như thế nào? Q có giao cho H có quyền cho người khác đi nhờ xe không? Có giao cho quyền quyết định cho ai đó gửi hàng hoặc quyết định việc nhận chở hàng thuê không?

15. Phan Văn H không có động cơ, mục đích phạm tội; không phải là người sở hữu, quản lý sử dụng xe ôtô hiệu TOYOTA HILUX bán tải biển kiểm soát 37C 25373; Hà không có quyền cho người khác đi nhờ xe hoặc quyết định cho ai đó gửi hàng hoặc quyết định việc nhận chở hàng thuê; H không có trách nhiệm phải kiểm tra hàng hóa mà người khác bỏ lên xe; Q là người có trách nhiệm, có quyền làm các việc này. H không biết trên xe có chở 01 con Tê Tê, Q nhờ H điều khiển xe về Việt Nam thì H điều khiển; tức là có dấu hiệu: H Không phạm tội như cáo trạng tuy tố.

Cỡ chữ