vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị L, tuyên bố ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng là đã chết từ ngày 24 tháng 7 năm 1997.

Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông D được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà L … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Đặng Thị L yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn D là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị L, tuyên bố ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng là đã chết từ ngày 24 tháng 7 năm 1997.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST-VDSĐồ Sơn, ngày 24 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Hữu Trường.

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 13/2018/TLST-VDS ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 14 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị L, nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Lương Thị L (cụ L là mẹ đẻ của ông D), nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp.

2. Anh Nguyễn Phú K (anh K là con trai ông D), nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp.

3. Anh Nguyễn Quang Li (anh Li là con trai ông D), nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, bà Đặng Thị L trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn D kết hôn vào năm 1992 tại xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Trong thời gian chung sống ông bà sinh được 02 con chung là Nguyễn Phú K và Nguyễn Quang Li. Ngày 24-7-1997, ông D trên tàu đi biển thì gặp bão lớn, ông D và tất cả những người đi cùng chuyến tàu đó đều đã mất tích từ đó đến nay, không có thông tin hay liên lạc gì với gia đình. Gia đình bà đã nhiều năm tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức nên đã tổ chức tang lễ cho ông D 02 năm sau đó, đồng thời thực hiện việc thờ cúng theo phong tục. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà và các thành viên khác trong gia đình khi tham gia các quan hệ pháp luật trong xã hội, bà đề nghị Toà án tuyên bố ông D là đã chết.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Lương Thị L, anh Nguyễn Phú K và anh Nguyễn Quang Li thống nhất trình bày: Vào giữa năm 1997, ông D đi tàu trên biển thì gặp bão lớn, ông D và tất cả những người đi cùng chuyến tàu đó đều đã mất tích từ đó đến nay, không có thông tin hay liên lạc gì với gia đình. Gia đình đã tổ chức tìm kiếm trong nhiều năm nhưng không có kết quả nên đã tổ chức tang lễ và thực hiện việc thờ cúng ông D theo phong tục tập quán địa phương. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình khi tham gia các quan hệ pháp luật trong xã hội, đề nghị Toà án tuyên bố ông D là đã chết.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự và đề nghị Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn áp dụng Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự; Điều 391, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị L về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn D là đã chết từ ngày 24-7-1997.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn D là đã chết. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi cư trú cuối cùng ông D là: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên họp, cụ Lương Thị L và anh Nguyễn Phú K vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào khoản 3 Điều 367, Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn tiến hành phiên họp vắng mặt cụ L và anh K.

- Về nội dung:

Về quyền yêu cầu: Bà L trình bày bà và ông D xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 1992 nhưng giấy chứng nhận kết hôn bị thất lạc. Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với chính quyền địa phương và có văn bản trả lời không còn sổ lưu trữ tại địa phương. Tuy nhiên, bà L và ông D có 02 con chung và gia đình ông D có lời khai thể hiện ông D và bà L là vợ chồng. Do đó, bà L có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông D là đã chết.

Lời khai của bà L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xác định: Bà L và ông D xây dựng hạnh phúc từ năm 1992, trong quá trình chung sống, ông bà sinh được 02 con chung là Nguyễn Phú K, sinh năm 1993 và Nguyễn Quang Li, sinh năm 1995. Ngày 24-7-1997, ông D trên tàu đi biển thì gặp bão lớn, ông D và tất cả những người đi cùng chuyến tàu đó đều đã mất tích từ đó đến nay, không có thông tin hay liên lạc gì với gia đình. Sau 02 năm tìm kiếm nhưng không có thông tin gì, gia đình đã làm tang lễ cho ông D, đồng thời thực hiện việc thờ cúng theo phong tục tập quán. Chính quyền địa phương, mẹ đẻ và các con ông D đều xác nhận việc ông D đi tàu gặp bão bị mất tích từ năm 1997 đến nay không có tin tức xác thực là còn sống.

Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; đăng trên Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố Hải Phòng; đăng trên Báo Công lý trong ba số 3, 4, 5 ra các ngày 09, 11 và 16 tháng 01 năm 2019; phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 16, 17 và 18 tháng 01 năm 2019. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên, Tòa án vẫn chưa nhận được tin tức gì của ông D.

Xét thấy, ông D bị tai nạn khi đi tàu trên biển vào ngày 24-7-1997. Đã sau 02 năm kể từ ngày tai nạn, đến nay vẫn không có tin tức xác thực là ông D còn sống; Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông D còn sống nên đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của bà L, tuyên bố ông D là đã chết theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về lệ phí: Bà L phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bà L, cụ L, anh K và anh Li có quyền kháng cáo quyết định theo Điều 371 và khoản 1 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, khoản 1 Điều 372, Điều 391 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị L, tuyên bố ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng là đã chết từ ngày 24 tháng 7 năm 1997.

Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông D được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà L phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm mà bà đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0006920 ngày 21-12-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; bà L đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà L và anh Li có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Cụ L và anh K có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ