vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 31/12/2019 Kinh doanh thương mại Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 09/2019/TLST-KDTM, ngày 05 tháng 11 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng M. Địa chỉ: thành phố X. Người đại diện hợp pháp của Ngân hàn…

Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng M không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 15.374.000đồng (Mười lăm triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/201… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "“Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”, giữa nguyên đơn Ngân hàng M với bị đơn bà N"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 09/2019/TLST-KDTM, ngày 05 tháng 11 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng M. Địa chỉ: thành phố X. Người đại diện hợp pháp của Ngân hàn…
  • Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST-KDTMSóc Trăng, ngày 31 tháng 12 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI Căn cứ vào Điều 48, khoản 4 Điều 157, Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm; Xét thấy: Vào ngày 30/12/2019, nguyên đơn Ngân hàng M (do ông M1, Giám đốc Ngân hàng M Chi nhánh huyện A là người đại diện hợp pháp theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2014) có đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 09/2019/TLST-KDTM, ngày 05 tháng 11 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu hủy quyết định cá biệt”, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng M. Địa chỉ: thành phố X. Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng M: Ông M1, Giám đốc Ngân hàng M Chi nhánh huyện A. Địa chỉ: Ấp C1, xã B1, huyện A, tỉnh Sóc Trăng. (theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2014) Bị đơn: Bà N. Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện A, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện hợp pháp của bà N: Bà N2. Địa chỉ: tỉnh Y. (theo văn bản ủy quyền ngày 28/8/2018) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông N1. Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện A, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện hợp pháp của ông N1: Bà N2. Địa chỉ: tỉnh Y. (theo văn bản ủy quyền ngày 28/8/2018) 2. Ủy ban nhân dân huyện A. Địa chỉ: Ấp C2, xã B1, huyện A, tỉnh Sóc Trăng. 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng M không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 15.374.000đồng (Mười lăm triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2016/0000523 ngày 02 tháng 8 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Sóc Trăng.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn Ngân hàng M phải chịu là 700.000đồng (Bảy trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp là 700.000đồng (Bảy trăm nghìn đồng) theo Phiếu thu số T11 ngày 27 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, nguyên đơn Ngân hàng M đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. 3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ