vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lý Thị H về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Tuyên bố: Anh anh Lý Ngọc H1; sinh năm: 1998. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước bị mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Lý Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn tron…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST-DSBù Đăng, ngày 08 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

T phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hà

Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Mạnh Hùng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Tâm- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng tiến hành phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 250/TLST-DS về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-DS, ngày 25 tháng 4 năm 2019. Gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lý Thị H; Sinh năm: 1992

Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lý Ngọc H1, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Ngọc H1 là bà Lương Thị L, sinh năm 1970 ( là mẹ ruột của Lý Ngọc H1)

Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

( Các đương sự đều có mặt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của chị Lý Thị H trình bày: Chị là con ruột của ông Lý Văn T sinh năm 1967 và bà Lương Thị L sinh năm 1970. Ông T và bà L sinh được 03 người con gồm có: chị là Lý Thị H, Lý Thị H2 sinh năm 1995 và Lý Ngọc H1 sinh năm 1998.Ngày 15 tháng 4 năm 2018 ông Lý Văn T chết.

Gia đình chị tiến hành làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế nhưng không thực hiện được vì em trai chị là anh Lý Ngọc H1 bị khuyết tật thần kinh trí tuệ bẩm sinh không làm chủ được hành vi bản thân. Vì vậy, anh H1 không thể ký tên cũng như quyết định được các vấn đề liên quan khi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế của cha ruột là ông Lý Văn T.

Vì vậy, để có cơ sở làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng tuyên bố anh Lý Ngọc H1 là mất năng lực hành vi dân sự.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Ngọc H1: Bà Lương Thị L trình bày: Bà là mẹ ruột của Lý Thị H và Lý Ngọc H1. Bà là vợ ông Lý Văn T. Ông Lý Văn T đã chết vào ngày 15/4/2018.

Sau khi ông T chết, bà và các con bà tiến hành khai nhận di sản thừa kế nhưng không thực hiện được vì có anh Lý Ngọc H1 bị bệnh khuyết tật về não bẩm sinh, không nhận thức làm chủ được hành vi bản thân.Vì vậy, để thực hiện việc khai nhận di sản thừa kế của ông T để lại. Bà đồng ý với ý kiến của chị H là tuyên bố anh Lý Ngọc H1 mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp: kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: Về tố thủ tục tố tụng: Không có ý kiến gì; Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lý Thị H là tuyên bố anh Lý Ngọc H1 mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng nhận định:

[1]Về thẩm quyền: Chị Lý Thị H và anh Lý Ngọc H1 có nơi cư trú tại Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 27; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết việc dân sự này là đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Xét yêu cầu của chị Lý Thị H về việc yêu cầu tuyên bố anh Lý Ngọc H1 là mất năng lực hành vi dân sự:

Căn cứ giấy khai sinh của anh H1 và chị H và lời khai của bà Lương Thị L là mẹ ruột anh Lý Ngọc H1 thể hiện anh H1 và chị H là chị em ruột. Chị H và bà L đều xác nhận anh H1 bị bệnh khuyết tật về não bẩm sinh, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân. Hiện nay, gia đình chị H cần làm một số thủ tục giấy tờ liên quan về đất đai, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình chị, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lý Ngọc H1 mất năng lực hành vi dân sự. Như vậy, chị H có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật.

Theo yêu cầu của chị Lý Thị H thì ngày 30/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng đã ra quyết định trưng cầu giám định giám định pháp y tâm thần để xác định tình trạng bệnh của anh Lý Ngọc H1 về mặt y học cũng như về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của anh Lý Ngọc H1. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần số 195/KL-VPYTW, ngày 18/4/2019 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa ghi nhận lịch sử bản thân: anh Lý Ngọc H1 từ nhỏ có biểu hiện phát triển trí tuệ kém so với bạn bè cùng tuổi, không đi học được do không thể tiếp thu được, không làm được gì, ăn uống vệ sinh mẹ phải phụ giúp, không biết sử dụng tiền, không có bạn bè. Hiện tại: về năng lực định hướng: không đúng; về cảm xúc: thờ ơ, ngây ngô, bàng quan; Về tư duy: nhịp chậm, kém liên quan, nghèo nàn; Về trí nhớ, trí tuệ, chú ý: kém; về trắc nghiệm tâm lý: không có khả năng thực hiện. Kết luận về mặt y học thì anh Lý Ngọc H1 bị bệnh chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72-ICD.10);Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi kết luận anh Lý Ngọc H1 không có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Như vậy, việc chị Lý Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lý Ngọc H1 mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở cần được chấp nhận.

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: chị Lý Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về chi phí giám định pháp y tâm thần là 6.100.000đ, chị Lý Thị H tự nguyện nộp, đã nộp xong.

Từ những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 27, Điều 35, Điều 39, Các điều 369,370, 371, 372, 376,378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 22 và Điều 53 của Bộ luật dân sự năm 2015

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lý Thị H về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Tuyên bố: Anh anh Lý Ngọc H1; sinh năm: 1998. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước bị mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Lý Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ chị H đã nộp tại biên lai thu số 0022495 ngày 07/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

3. Chi phí giám định pháp y tâm thần là 6.100.000đ, chị Lý Thị H tự nguyện nộp, chị H đã nộp xong.

4. Người yêu cầu, người đại diện hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn đó được tính từ ngày người vắng mặt nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được niêm yết; Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày;Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ