- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "việc chị Nguyễn Thị L, chị Hà Ngọc B yêu cầu tuyên bố bà Hà Thị Đ là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L. Tuyên bố bà Hà Thị Đ - sinh năm 1961, nơi cư trú cuối cùng: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ là đã chết kể từ ngày 01/8/1997.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐST-DS | Thanh Sơn, ngày 21 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v: Tuyên bố một người là đã chết”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Khắc Chiên
- Thư ký phiên họp: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Những người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1. Chị Nguyễn Thị L - sinh năm: 1990
Địa chỉ: Xóm V, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ
2. Chị Hà Ngọc B - sinh năm: 1980 (chị B ủy quyền cho chị L)
Địa chỉ: Xóm H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(chị L có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị N - sinh năm: 1931
Địa chỉ: Xóm S, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(bà N có mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L trình bày:
Mẹ đẻ các chị là bà Hà Thị Đ - sinh năm: 1961, mặc dù không có chồng nhưng bà Đ sinh được các chị là Hà Ngọc B - sinh năm: 1980 và Nguyễn Thị L
- sinh năm: 1990.
Khoảng tháng 7/1997 bà Đ bỏ nhà đi nhưng không nói cho gia đình biết là đi đâu và làm gì với ai, sau đó bà Đ cũng không liên lạc về gia đình. Gia đình các chị đã đi tìm nhiều lần nhưng không có tin tức gì. Hiện nay các chị và gia đình không ai xác định được ngày bà Đ bỏ đi vì không nhớ.
Bà Hà Thị Đ có tài sản là thửa đất ở và đất nông nghiệp tại xã V, huyện T. Các thửa đất này đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 015748 ngày 22/9/1996 đứng tên Hà Thị Đ. Ngoài tài sản này bà Đ không có tài sản gì khác.
Đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố bà Hà Thị Đ - sinh năm: 1961 là đã chết. Đối với tài sản của bà Đ là quyền sử dụng đất, các chị không đề nghị Tòa án giải quyết là giao cho ai quản lý.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hà Thị N trình bày:
Bà và ông Hà Văn M sinh được 04 người con là Hà Quang N, Hà Quang D, Hà Thị Đ và Hà Quang T nên mối quan hệ giữa bà và bà Đ là hai mẹ con. Ông M chết năm 2012.
Khoảng tháng 7/1997 bà Hà Thị Đ đi làm xa nhà, khi đi bà Đ không nói cho gia đình biết là đi đâu và làm gì với ai, sau đó cũng không liên lạc về gia đình, từ đó đến nay không có tin tức gì về bà Đ. Mặc dù gia đình bà đã đi tìm rất nhiều lần và hỏi một số người hay đi làm xa nhà nhưng vẫn không có tin tức gì về bà Đ.
Nay các chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L là con gái bà Đ đề nghị Tòa án tuyên bố bà Hà Thị Đ - sinh năm: 1961 là đã chết thì bà nhất trí. Đối với tài sản của bà Đ, không đề nghị Tòa án giải quyết là giao cho ai quản lý.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự:
Căn cứ vào Điều 71 của Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người đã chết của chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L đối với bà Hà Thị Đ.
Chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn nhận định:
Về tố tụng: Bà Hà Thị Đ - sinh năm 1961, nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích là xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Các chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L là con của bà Đ, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố mẹ đẻ các chị là bà Hà Thị Đ đã chết. Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về tuyên bố một người là đã chết: Xét thấy bà Hà Thị Đ vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 7/1997 đến nay là trên 05 năm liền, gia đình đã đi tìm nhiều lần nhưng không có tin tức gì về bà Đ. Tòa án xác minh tại nơi cư trú của bà Đ, trước khi bà Đ vắng mặt nơi cư trú thì có đăng ký hộ khẩu tại xã V, huyện T, bà Đ vắng mặt nơi cư trú từ khoảng tháng 7/1997 đến nay, hiện nay gia đình bà Đ và chính quyền địa phương không ai có tin tức gì về bà Đ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn đã thông báo tìm kiếm bà Hà Thị Đ trên Báo công lý của các số 55, 56 và 57 ra các ngày 10, 12 và 17/7/2019; Đài tiếng nói Việt Nam phát vào hồi 17 giờ 30 phút của các ngày 12, 13 và 14/7/2019. Từ ngày thông báo tìm kiếm đến nay không có tin tức gì về bà Hà Thị Đ. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự, chị B và chị L đề nghị yêu cầu tuyên bố bà Hà Thị Đ là đã chết là có căn cứ. Vì vậy, tuyên bố bà Hà Thị Đ - sinh năm: 1961 là đã chết.
Xác định ngày chết của bà Đ: Gia đình chị B, chị L và bà N không ai nhớ cụ thể ngày bà Đ bỏ đi mà chí nhớ là tháng 7/1997. Căn cứ khoản 1 Điều 68, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự, ngày chết của bà Đ là ngày 01/8/1997.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố là đã chết: Xét thấy bà Đ có tài sản là quyền sử dụng đất tại xã V, huyện T, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị L, chị B và bà N không đề nghị Tòa án giải quyết là giao tài sản này cho ai quản lý nên không giải quyết.
Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Xét thấy bà Đ có tài sản nên tài sản được giải quyết như đối với người đã chết và theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 68; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và khoản 2 Điều 72 của Bộ luật Dân sự. Điều 149; Điều 371; Điều 372; Điều 391 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L. Tuyên bố bà Hà Thị Đ - sinh năm 1961, nơi cư trú cuối cùng: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ là đã chết kể từ ngày 01/8/1997.
3. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Tài sản của bà Hà Thị Đ được giải quyết như đối với người đã chết và theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hà Ngọc B và chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0001763 ngày 28/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Xác nhận chị B và chị L đã nộp đủ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn có quyền kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Sơn; - UBND xã V; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |