vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 07/01/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 162/2018/TLST-DS ngày 05/9/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp L, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 162/2018/TLST-DS ngày 05/9/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST-DSBa Tri, ngày 07 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mộng Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trung

Bà Huỳnh Thị Sương

Đại diện VKSND huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm – Kiểm sát viên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

Căn cứ vào các Điều 217, 218, 219, 235, điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 162/DSST ngày 05 tháng 9 năm 2018;

Xét thấy: Tại phiên tòa ngày 20/12/2018 HĐXX đã quyết định hoãn phiên tòa do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị B là bà Đinh Thị Bé M vắng mặt lần thứ nhất, HĐXX ấn định thời gian xét xử lại lần hai vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 7/01/2019, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt cho bà Đinh Thị Bé M để tham dự phiên tòa xét xử lần thứ hai theo đúng quy định pháp luật. Nhưng Tại phiên tòa hôm nay bà Đinh Thị Bé M vẫn vắng mặt. Tuy HĐXX có nhận được đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 6/01/2018 ghi tên Đinh Thị Bé M, sinh năm 1972, trú tại: 65B7, tổ 6, khu phố 4, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre có nội dung “… ngày 7/01/2019 tôi được TAND huyện Ba Tri triệu tập xét xử nhưng do công tác đột xuất, tôi làm đơn xin xét xử vắng mặt…” đơn không có xác nhận chữ ký, chữ viết của người ghi trong đơn của chính quyền địa phương, thời gian ghi trong đơn ( ngày 6/01/2018) đến nay ( ngày 7/01/2019) là 01 năm, đơn có trước khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án. Đơn nầy do một người lạ đến tòa án nộp vào lúc 8 giờ cùng ngày mở phiên tòa (7/01/2019). Qua làm việc thì người nộp đơn không có quan hệ thân thích với người ghi trong đơn ( Đinh Thị Bé M) và cũng không có quan hệ thân thích với nguyên đơn Nguyễn Thị Bình, chỉ là có người nhờ nên anh đi nộp dùm, ngoài ra anh không biết gì. Từ các phân tích trên, xét đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 6/01/2018 ghi tên Đinh Thị Bé M là không có giá trị pháp lý nên HĐXX không chấp nhận đơn nầy, để xét xử vụ án vắng mặt bà Đinh Thị Bé M người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị B. Đồng thời, từ ngày hoãn phiên tòa ngày 20/12/2018 đến tại phiên tòa hôm nay (ngày 7/01/2019) HĐXX không nhận được bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng minh là bà Đinh Thị Bé M có gặp sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan gì ảnh hưởng đến việc có mặt của bà M tại phiên tòa hôm nay để làm căn cứ hoãn phiên tòa. Do đó, HĐXX căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có ý kiến đề nghị hoãn phiên tòa với căn cứ cho rằng: mặc dù đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 06/01/2018 ghi tên Đinh Thị Bé M có hình thức chưa đúng - không có xác nhận của chính quyền địa phương đối với chữ ký và chữ viết họ tên của bà Đinh Thị Bé M, đơn không do bà M nộp trực tiếp cho Tòa án nhưng đối chiếu với chữ viết và chữ ký của bà Đinh Thị Bé M có trong hồ sơ vụ án thì thấy có nét tương đồng, đồng thời nội dung đơn cũng thể hiện là bận công tác đột xuất nên có thể được xem xét là trở ngại khách quan theo quy định khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử cho hoãn phiên tòa để triệu tập bà M xét xử lần sau. Xét ý kiến của kiểm sát viên là không phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không chấp nhận.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 162/2018/TLST-DS ngày 05/9/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

1.1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp L, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đinh Thị Bé M, sinh năm 1972. Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

1.2. Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1962 ( có mặt)

Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1959

Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Bà T ủy quyền cho ông Trần Minh T tham gia tố tụng.

1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Tuyết N , sinh năm 1963. Địa chỉ: ấp A, xã P, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre ( có mặt).

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

Sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị B đã nộp là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019981 ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ