- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa Hoàng Ngọc C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1979.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 14 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Sinh.
2.Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 14 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/QĐ-TA ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Hoàng Ngọc C. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 01 tháng 5 năm 1979;
Chứng minh nhân dân số: 082018774. Ngày cấp: 21/5/2015. Nơi cấp: Công an tỉnh Lạng Sơn.
Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12;
Nguyên quán: Xã Q, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 43C, đường L, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn;
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không; tiền sự: Không;
Con ông: Hoàng Văn C (đã chết) và bà Ma Thị L.
Hoàng Ngọc C vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Đồng Xuân Hoàng - Cán bộ. Theo giấy ủy quyền số 359/QĐ-LĐTB&XH, ngày 13/11/2017 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn.
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đối tượng Hoàng Ngọc C là người nghiện chất ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường theo Nghị định 111/2013/NĐ- CP ngày 30/9/21013 của Chính phủ tại Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 10/01/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 03 tháng. Ngày 10/4/2017 Hoàng Ngọc C chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường.
Ngày 26/02/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L ra Quyết định số 04b/QĐ-UB về việc quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình đối với Hoàng Ngọc C. Ngày 26/8/2018 Hoàng Ngọc C chấp hành xong đợt cai nghiện tự nguyên tại gia đình; nhưng Hoàng Ngọc C vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và lệ thuộc vào ma túy.
Ngày 21/9/2018, Công an phường T, thành phố L đã tiến hành triệu tập, Hoàng Ngọc C khai đã nghiện ma túy từ năm 2002, hàng ngày vẫn sử dụng ma túy. Loại ma túy Hoàng Ngọc C thường sử dụng là Heroin. Ngày 12/12/2018, Công an phường T, thành phố L đã tiến hành lập biên bản đối với Hoàng Ngọc C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 21, Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với Hoàng Ngọc C, kết quả xét nghiệm nước tiểu Hoàng Ngọc C dương tính với chất ma túy Hêrôin.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Hoàng Ngọc C đã được cai nghiện tại gia đình và áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/21013 của Chính phủ nhưng vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và lệ thuộc vào ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ, Hoàng Ngọc C đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho Hoàng Ngọc C theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Hoàng Ngọc C không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Hoàng Ngọc C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 22 đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:
Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị; trình tự, thủ tục tại phiên họp; người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Nhất trí đề nghị của đại diện Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố L, buộc Hoàng Ngọc C chấp hành cai nghiện bắt buộc 20 tháng là phù hợp.
Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị là bà Ma Thị L (mẹ đẻ Hoàng Ngọc C) vắng mặt tại phiên họp nhưng trong đơn đề nghị đưa con đi cai nghiện bắt buộc thể hiện:
- Con tôi là Hoàng Ngọc C đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã nhưng không có tiến bộ, hiện nay vẫn nghiện ma túy và thường xuyên mua ma túy về sử dụng, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của bản thân, kiệt quệ về kinh tế cho gia đình và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, tôi hoàn toàn đồng ý và đề nghị các cơ quan có trách nhiệm đưa con tôi là Hoàng Ngọc C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cháu Cảnh có thời gian cai nghiện theo phác đồ cai nghiện của Nhà nước và học tập, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C được thực hiện như sau:
Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ làm căn cứ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được thực hiện theo đúng quy định tại khoản 1, 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và mục 2 Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc, cụ thể:
+ Bản tóm tắt lý lịch và tài liệu chứng minh về tuổi của đối tượng Hoàng Ngọc C;
+ Phiếu trả lời kết quả đối tượng Hoàng Ngọc C là người nghiện chất ma túy của bác sỹ Trưởng Trạm y tế cấp xã.
+ Tài liệu chứng minh đối tượng Hoàng Ngọc C đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường gồm có:
* Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 10/01/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường đối với Hoàng Ngọc C;
* Giấy chứng nhận số 01A/GCN-UBND ngày 10/4/2017 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L về việc đối tượng Hoàng Ngọc C đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường.
+ Biên bản về vi phạm hành chính của Công an phường T, thành phố L lập ngày 12/12/2018 đối với Hoàng Ngọc C vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
+ Bản tường trình của đối tượng vi phạm Hoàng Ngọc C;
+ Thông báo số 11/CV-UBND ngày 24/12/2018 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L về việc lập hồ sơ và giao hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C;
+ Thông báo số 197/TB -TP ngày 28/12/2018 của Phòng Tư pháp thành phố L về kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C và Công văn số 564/LĐTBXH ngày 28/12/2018 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn về đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C.
- Hồ sơ thể hiện đối tượng Hoàng Ngọc C là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn còn nghiện quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và mục 1 Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm. Do đó, tính từ ngày 12/12/2018 là ngày Hoàng Ngọc C bị Công an phường T, thành phố L lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì thời hiệu vẫn đảm bảo theo luật định.
- Về thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị: Theo điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng có nơi thường trú ổn định tại phường T, thành phố L nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T và Công an phường T có trách nhiệm giúp thu thập tài liệu, lập hồ sơ.
- Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Đảm bảo theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C là đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Hành vi vi phạm của Hoàng Ngọc C đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây ảnh hưởng cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
- Xét về nhân thân của Hoàng Ngọc C: Là người đã trưởng thành, bản thân không có tiền án, tiền sự; đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã nhưng không tiến bộ.
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị áp dụng Hoàng Ngọc C đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Người bị đề nghị Hoàng Ngọc C có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù có tình tiết giảm nhẹ, nhưng hành vi vi phạm của Hoàng Ngọc C cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Hoàng Ngọc C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 (hai mươi hai) tháng.
Xét thấy Hoàng Ngọc C không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; do vậy chỉ cần đưa Hoàng Ngọc C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Hoàng Ngọc C đã gây ra; để Hoàng Ngọc C có thời gian cai nghiện và sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy mới có tác dụng cảm hóa, giáo dục Hoàng Ngọc C trở thành người công dân có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Áp dụng Điều 4; Điều 8 và Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mục 2 Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Áp dụng Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Ngọc C, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1979.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 43C, đường L, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện buộc là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Phòng Tư pháp TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Phòng LĐ-TB &XH TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - UBND phường T, TP L, tỉnh Lạng Sơn - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Đình Sinh |