- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Võ Trường S- Công ty C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông A. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 10/2018/QĐST-LĐ ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02 /2019/QĐ-PT | Bình Dương, ngày 10 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Nhàn.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đắc Cường;
Ông Phan Trí Dũng.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Ông Lý Đạo Phú Quý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 10/2018/QĐST-LĐ ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương đã căn cứ vào Điều 161; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 219; khoản 2 Điều 227; Điều 235, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động về việc “tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” giữa:
- Nguyên đơn: Ông A, sinh năm 1972; địa chỉ: Quận O, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông B, sinh năm 1975; tạm trú: Tổ E, khu phố F, phường G, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (theo văn bản ủy quyền ngày 24/3/2018);
- Bị đơn: Công ty C; địa chỉ: Thị xã I, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà D, sinh năm 1985; địa chỉ: Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 04/6/2018);
Theo đơn kháng cáo ngày 14/12/2018, nguyên đơn ông A kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 10/2018/QĐST-LĐ ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương với lý do:
Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương không thực hiện đúng quy định tại Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự khi làm thủ tục tống đạt giấy triệu tập đương sự. Nguyên đơn đã không nhận được giấy triệu tập và không biết phiên tòa xét xử được mở ngày 16/11/2018.
Nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử sau ngày 20/11/2018 vì phải công tác nhưng Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương vẫn cố tình sắp xếp lịch xét xử vào ngày 16/11/2018.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 10/2018/QĐST-LĐ ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Ngày 19/10/2018, ông B có đơn xin hoãn phiên tòa trong đơn nêu rõ từ ngày 20/10/2018 đến ngày 20/11/2018 bận công tác và yêu cầu mở phiên tòa sau ngày 20/11/2018, đây được coi là trở ngại khách quan được quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự mà đương sự đã thông báo bằng văn bản trước cho Tòa án sơ thẩm. Tổ trưởng dân phố xác nhận ông B thường đi làm vắng nhà tối mới về, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện giao giấy triệu tập cho Tổ trưởng dân phố hoặc người thân thích của ông B, mà đã tiến hành các thủ tục niêm yết là vi phạm khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng Dân sự, do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ số 10/2018/QĐST-LĐ ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
XÉT THẤY:
Theo hồ sơ, ông B, đại diện theo ủy quyền của ông A, đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐST-LĐ ngày 08/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T về việc mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 24/10/2018. Ngày 19/10/2018, ông B có đơn xin hoãn phiên tòa ngày 24/10/2018 cho đến sau ngày 20/11/2018 (bút lục 264) với lý do bận đi công tác. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ đơn của ông B hoãn phiên tòa ngày 24/10/2018 nhưng không chấp nhận việc hoãn phiên tòa đến sau ngày 20/11/2018 mà không có bất kỳ văn bản nào thông báo cho đại diện nguyên đơn biết, trong khi thời hạn đại diện nguyên đơn xin hoãn phiên tòa không quá 01 tháng theo quy định tại Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi quyết định hoãn phiên tòa ngày 24/10/2018, Tòa án cấp sơ thẩm đã ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 16/11/2018 và thực hiện thủ tục tống đạt quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa bằng hình thức niêm yết. Xem xét thủ tục niêm yết của Tòa án cấp sơ thẩm thấy rằng: Ngày 30/10/2018, Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của đại diện nguyên đơn và được Tổ trưởng tổ E, khu phố F, phường G, thành phố H, tỉnh Đồng Nai cho biết: “Hiện ông B đang sinh sống cùng vợ và con tại địa chỉ này. Ông B hay đi làm vắng nhà đến tối mới về” (bút lục 273). Ngay sau đó Tòa án cấp sơ thẩm lập biên bản không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho ông B với lý do “Ông B đi vắng không rõ thời gian về nhà” (bút lục 274) là không đúng với nội dung biên bản xác minh nêu trên. Thực tế, theo đơn xin hoãn phiên tòa của đại diện nguyên đơn thì Tòa án cấp sơ thẩm đã biết đại diện nguyên đơn bận đi công tác từ ngày 20/10/2018 đến ngày 20/11/2018 và căn cứ theo kết quả xác minh thì Tòa án phải giao giấy triệu tập cho Tổ trưởng dân phố hoặc người thân thích của ông B và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho ông B. Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện thủ tục niêm yết giấy triệu tập cho đại diện nguyên đơn tham gia phiên tòa trong trường hợp này là vi phạm quy định của đoạn 1 khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án vì cho rằng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là không bảo đảm khách quan và không phù hợp quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Do đó, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 3 Điều 148; khoản 1, điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông A. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 10/2018/QĐST-LĐ ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã T tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
3. Án phí phúc thẩm: Ông A không phải chịu.
4. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND TX. T; - Chi cục THADS TX. T; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa LĐ, tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Trần Thị Nhàn |