vanban.org

Quyết định 02/2019/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 21/01/2019 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2018/KN-HS ngày 22/02/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

15/2017/HSS 08 tháng 3 năm 2017 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Kim O - Bị truy tố tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2018/KN-HS ngày 22/02/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng điều 60 của…; Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Quyết định số: 02/2019/HS-GĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 21 tháng 01 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tuấn

Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Nguyễn Thanh Long và ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Kính - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

Lê Thị Kim O, sinh năm 1972; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 27 Đường L, phường X, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Lê Ngọc C (sinh năm 1935) và bà Lê Thị X1 (sinh năm 1938); chồng: Trần Minh Th1; có 02 con: lớn 17 tuổi, nhỏ 07 tuổi; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 29/3/2006, bị Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Hết thời hiệu thi hành từ ngày 29/3/2007.

- Ngày 29/01/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về hành vi Tổ chức đánh bạc, chấp hành xong ngày 29/01/2010.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 16/9/2015, ngày 05/02/2016 thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lãnh.

Ngoài ra, trong vụ án con có bị cáo Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Thị Bích Th đều bị kết án về tội “Đánh bạc”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 18 giờ 21 phút ngày 15/9/2015, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T phát hiện Lê Thị Kim O đang chờ giao tịch đề cho người khác ở địa chỉ 27 Đường L, phường 2, thành phố T, tỉnh Phú Yên nên mời đến Công an phường 2 để làm việc. Tại đây, O đã giao nộp 19 tịch đề số tiền 15.909.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia 301 màu trắng số sim 0984.913.152 có chứa tin nhắn đánh đề.

Kết quả điều tra xác định được:

Từ năm 2013, O tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán lô đề ghi trên các tịch đề, nhận tin nhắn đánh đề qua số điện thoại 0984.913.152 và đi gom tịch đề giao lại cho Phạm Hoàng C (không rõ họ tên địa chỉ) để hưởng hoa hồng 01%. Việc tổ chức ghi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết đài miền Trung và đài miền Bắc. Người mua lô đề số 02 chân tức là mua 02 số cuối, bao lô được nhân 18 số từ giải 8 đến giải đặc biệt nếu là đài miền Trung, nhân 27 số từ giải 8 đến giải đặc biệt nếu là đài miền Bắc. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết tương ứng, người mua đề trúng thì được nhận số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua. Người mua lô đề số 03 chân tức là mua 03 số cuối, bao lô được nhận 17 số từ giải 7 đến giải đặc biệt nếu là đài miền Trung, nhân 23 số từ giải 7 đến giải đặc biệt nếu là đài miền Bắc. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết tương ứng, người mua đề trúng thì được nhận số tiền gấp 600 lần số tiền đã mua. Để khuyến khích chơi đề, O trích 29% trên tổng số tiền mua đề, trong đó người ghi đề được hưởng 06%, người mua đề được hưởng 23% đối với đài miền Trung; trích 28% trên tổng số tiền mua đề, trong đó người ghi đề được hưởng 05%, người mua đề được hưởng 23% đối với đài miền Bắc. Nếu người nào mua đề trực tiếp từ O thì được trích 29% trên tổng số tiền mua đề đối với đài miền Trung, trích 28% trên tổng số tiền mua đề đối với đài miền Bắc.

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 15/9/2015, Lê Thị Kim O điều khiển xe nhãn hiệu Air blade, biển số 78L-7435 đi đến đường Lương Văn C2 đoạn gần siêu thị Coop.Mart thuộc phường 4, thành phố T gặp Nguyễn Văn Tr nhận 01 tịch đề đài Đăk Lăk với số tiền đánh bạc trên tịch là 6.675.400 đồng, trích lại 29% nên Tr chỉ giao cho O số tiền 4.739.534 đồng, đối chiếu kết quả mở thưởng thì số tiền trúng là 7.970.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc đài ĐăkLắk là 12.709.534 đồng, tịch đề này O thua nên không có tiền thu lợi bất chính; 01 tịch đề đài miền Bắc và số tiền đánh bạc trên tịch là 2.721.800 đồng trích lại 28% nên Tr chỉ giao cho O số tiền là 1.959.696 đồng, vì lúc này đài miền Bắc đang mở thưởng nên không tính số tiền trúng thưởng. Ngoài ra, Tr giao cho O số tiền 15.000.000 đồng để trả tiền thua đề trước đó.

Tương tự như trên, Lê Thị Kim O nhận của Nguyễn Thị Bích Th 01 tịch đề đài Đăk Lăk với tổng số tiền đánh bạc là 5.274.202 đồng, tịch đề này O thua nên không có tiền thu lợi bất chính; 01 tịch đề đài miền Bắc với tổng số tiền đánh bạc là 1.370.880 đồng.

Lê Thị Kim O sử dụng số điện thoại 0984.913.152 nhận tin nhắn mua lô đề đài miền Bắc từ số điện thoại 098.717.4477 của Đặng Minh Tân với số tiền là 4.879.440 đồng.

Ngoài ra, trong ngày 19/5/2015, O trực tiếp bán lô đề cho nhiều người không rõ họ tên ở 02 tịch đề đài Đăk Lăk với tổng số tiền đánh bạc là 4.656.479 đồng và 05 tịch đề đài miền Bắc với số tiền đánh bạc là 2.052.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2017/HSST ngày 08/3/2017, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên quyết định:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Thị Kim O 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường 2, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Kim O 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Thị Bích Th, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2018/KN-HS ngày 22/02/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 15/2017/HSST ngày 08/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên về phần hình phạt đối với Lê Thị Kim O để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2017/HSST ngày 08/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên về phần hình phạt đối với Lê Thị Kim O để xét xử sơ thẩm lại theo hướng không cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tội danh: Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Thị Kim O, Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Thị Bích Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 15/9/2015, Lê Thị Kim O đã có hành vi tổ chức đánh bạc với Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Thị Bích Th, Đặng Minh Tân và nhiều người khác thể hiện trên 12 tịch đề đài Đăk Lăk, 07 tịch đề đài miền Bắc và nội dung tin nhắn đánh bạc qua điện thoại giữa O và Tân với tổng số tiền 36.284.516 đồng. Nguyễn Văn Tr đánh bạc với O ở đài Đăk Lăk với số tiền 12.709.534 đồng, đài miền Bắc 1.959.696 đồng; Nguyễn Thị Bích Th đánh bạc với O ở đài Đăk Lăk với số tiền 5.274.202 đồng, đài miền Bắc 1.370.880 đồng. Đến khoảng 18 giờ 21 phút cùng ngày, O chờ giao tịch đề cho người khác thì bị Cơ quan cảnh sát Công an thành phố T phát hiện.

Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết tội bị cáo Lê Thị Kim O về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Thị Bích Th về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về hình phạt: Trong vụ án này, mặc dù số tiền Lê Thị Kim O thu được qua hành vi tổ chức đánh bạc không lớn (trên 60.000.000 đồng), nhưng thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Thị Kim O có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính và bị kết án có cùng tính chất với lần phạm tội này (ngày 29/3/2006 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; ngày 29/01/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo). Trong khi đó, bị cáo O chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Tòa án nhân thành phố T xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự và cho bị cáo hưởng án treo là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, vi phạm điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đồng thời việc cho bị cáo hưởng án treo là không nghiêm, không đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 04/2018/KN-HS ngày 22/02/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

2. Hủy

sơ

15/2017/HSS

08 tháng 3 năm 2017

thành phố T, tỉnh Phú Yên về phần trách nhiệm hình sự đối với Lê Thị Kim O. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ