vanban.org

Quyết định 02/2018/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị M (Hồ Thị M)

Tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B), sinh năm 1949; nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã P (hiện nay là ấp L, xã A), huyện T, tỉnh L là đã chết. Thời điểm xác định theo pháp luật ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B) đã chết là ngày 02 tháng 01 năm 1993. Về lệ phí: Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Hồ Thị M yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn B là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị M (Hồ Thị M)
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2
THÀNH PHỐHỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2018/QĐDS-ST
Ngày: 15/01/2018
V/v: “Tuyên bố một người là
đã chết”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Ngọc Phú – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Ngọc Tân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 290/2016/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2016 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 154/2017/QĐMPH-ST ngày 26 tháng 12 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Hồ Thị M (Hồ Thị M), sinh năm 1955

Địa chỉ: phường P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh

Yêu cầu tuyên bố chết đối với ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn Đ), sinh năm 1949. Nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã P (hiện nay là ấp L, xã A), huyện T, tỉnh L.

2. Người liên quan:

2.1 Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1974

2.2 Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1977

Cùng địa chỉ: phường P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Hồ Thị M (Hồ Thị M), bà Nguyễn Thị Thủy T, ông Nguyễn Hoàng H - tất cả vắng mặt tại phiên họp và có đơn xin vắng mặt.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) và ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn Đ) chung sống vợ chồng từ năm 1973 đến năm 1987 tại ấp H, xã P (hiện nay là ấp L, xã A), huyện T, tỉnh L. Bà M (M) và ông Đ (B) có 02 người con chung là Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1974 và Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1977. Từ sau năm 1987, ông Đ (B) bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức. Nay bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn Đ) là đã chết.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 2 nhận định:

1. Về thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Người bị yêu cầu tuyên bố đã chết là ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn Đ), sinh năm 1949. Nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã P (hiện nay là ấp L, xã A), huyện T, tỉnh L. Người yêu cầu bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) có nơi cư trú tại Quận 2 và lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ việc là phù hợp quy định tại Khoản 4 Điều 27; điểm a Khoản 2 Điều 35; điểm a Khoản 2 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Người yêu cầu bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) và người liên quan bà Nguyễn Thị Thủy T, ông Nguyễn Hoàng H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Xét bà Hồ Thị M (Hồ Thị M), bà Nguyễn Thị Thủy T, ông Nguyễn Hoàng H đã có lời khai và việc vắng mặt của các đương sự không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc dân sự này, nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

2. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ bản tường trình và đơn xin xác nhận của bà Hồ Thị M (Mì), có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh L về việc bà Hồ Thị M và ông Nguyễn Văn Đ từ năm 1973 đến năm 1987 sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn tại địa phương là thật.

Căn cứ phiếu yêu cầu xác minh số 84/PYCXM ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân Quận 2, công an huyện T, tỉnh L cho biết: năm 1994 xã P được tách thành 02 xã: xã P và xã A và cũng từ năm 1994 cho đến nay đương sự Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B), sinh năm 1949 không đăng ký thường trú và sinh sống ở địa phương ấp L, xã A, huyện T, tỉnh L.

Căn cứ phiếu yêu cầu xác minh số 88/PYCXM ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân Quận 2, công an xã P, huyện T, tỉnh L cho biết: đương sự Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B), sinh năm 1949 không có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Công an xã P không quản lý đương sự Đ (B).

Việc xác nhận này phù hợp với lời khai nhận tại các bản tự khai ngày 16/12/2016 của bà Nguyễn Thị Thủy T, ông Nguyễn Hoàng H về “Thời điểm ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B) đi khỏi địa phương không có tin tức”. Thời điểm biết được tin tức cuối cùng của ông Đ là năm 1987, đến ngày Tòa án nhân dân Quận 2 thụ lý vụ việc là đã hơn 05 năm.

Xét thấy, trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã hướng dẫn bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) nhắn tin thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng (Báo Lao Động đăng vào các ngày 08,09,10/3/2017, Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng vào các ngày 27,28,29/3/2017, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 10/8/2017 và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 16/8/2017) theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 và Khoản 2 Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đến nay, vẫn không có tin tức gì của ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B).

Từ những nhận định trên, trường hợp ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B) đủ điều kiện để Tòa án tuyên bố là đã chết theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015. Vì vậy, yêu cầu của bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B) đã chết là có cơ sở chấp nhận. Xác định thời điểm chết của ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B) được thực hiện theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về lệ phí: Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Hồ Thị M chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí bà Mỹ đã nộp là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AE/2014/0004533 ngày 08/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hồ Thị M phải nộp bổ sung số tiền lệ phí 100.000 (Một trăm nghìn) đồng.

4. Ý kiến của Kiểm sát viên – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị M (Hồ Thị M) về việc tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B), sinh năm 1949; nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã P (hiện nay là ấp L, xã A), huyện T, tỉnh L là đã chết.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 369, 370, 371, 372, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị M (Hồ Thị M)

Tuyên bố ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B), sinh năm 1949; nơi cư trú cuối cùng: ấp H, xã P (hiện nay là ấp L, xã A), huyện T, tỉnh L là đã chết. Thời điểm xác định theo pháp luật ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Văn B) đã chết là ngày 02 tháng 01 năm 1993.

2. Về lệ phí: Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Hồ Thị M chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí bà M đã nộp là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AE/2014/0004533 ngày 08/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hồ Thị M phải nộp bổ sung số tiền lệ phí 100.000 (Một trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự (thời hạn kháng cáo đối với đương sự được tính là 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết).

Cỡ chữ