- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố hạn chế năng lực hành vi Dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của đương sự.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2018/QĐDS-ST Ngày 23 tháng 5 năm 2018 V/v Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Với thành phần tham gia phiên họp gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Quốc Công - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên họp: Ông Đặng Văn Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Điền mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2018/TLST-DS, ngày 27/3/ 2018, về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2018/QĐPH-DS ngày 07 tháng 5 năm 2018 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên họp .
1. Người yêu cầu: Bà Trương Thị G, sinh năm 1976; trú tại: Thôn Phú Lễ, xã Quảng P, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu : Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt .
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Xuân M; trú tại: Thôn Phú Lễ, xã Quảng P, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Theo đơn yêu cầu ngày 19 tháng 3 năm 2018 và tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06 tháng 4 năm 2018, người yêu cầu bà Trương Thị G trình bày như sau: Bà và ông Lê Xuân M chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng P vào năm 2005 và sinh được một người con. Từ nhỏ ông Minh đã bị bệnh động kinh và có uống thuốc để điều trị. Sau khi kết hôn, bệnh tình của ông Minh ngày càng nặng, thường xuyên lên cơn động kinh. Vào năm 2011, bà Gái có đưa ông Minh đến khám tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Thừa Thiên Huế và uống thuốc theo đơn để điều trị nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Hằng tháng, ông Minh có nhận chế độ trợ cấp xã hội ở xã Quảng P dành cho người tâm thần. Nay bà Trương Thị G yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Xuân M mất năng lực hành vi dân sự để thực hiện một số giao dịch dân sự khác liên quan đến ông Minh.
Tại phiên họp hôm nay, bà Trương Thị G thay đổi yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Lê Xuân M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh nhất trí với ý kiến của và Gái, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Lê Xuân M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Qua trình bày của người yêu cầu; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu, kết quả kiểm tra xem xét những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự trên.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận định:
Bà Trương Thị G và ông Lê Xuân M chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng P vào năm 2005. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp do đó bà Gái có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Minh người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Mặc dù ông Minh được gia đình đưa đi điều trị và uống thuốc tương đối đều đặn nhưng cơn co giật không thuyên giảm, đặc biệt khi thay đổi thời tiết, ông Minh lên cơn dày hơn và thời gian kéo dài hơn, ảnh hưởng đến nhận thức và điều khiển hành vi.
Sau khi thụ lý việc dân sự, theo đơn yêu cầu của bà Trương Thị G, Tòa án huyện Quảng Điền đã trưng cầu giám định tâm thần đối với ông Lê Xuân M.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 289/KL-GĐTC ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung đối với ông Lê Xuân M đã kết luận:
- Về mặt y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng nhân cách (G40).
- Về năng lực hành vi dân sự: Khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và kết luận giám định của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền Trung, xét thấy đã đủ cơ sở để chấp nhận tuyên bố ông Lê Xuân M là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Về lệ phí dân sự sơ thẩm: bà Trương Thị G phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 27, 244, 361, 367, 370, 372, 376, 377, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 điều 23; Điều 53; Điều 54; Điều 57; Điều 58; Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2015.
1. Chấp nhận yêu cầu của đương sự. Tuyên bố: ông Lê Xuân M; sinh năm: 1979; nơi ĐKNKTT: Thôn Phú Lễ, xã Quảng P, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Bà Trương Thị G, sinh năm 1976; nơi ĐKNKTT: Thôn Phú Lễ, xã Quảng P, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là người giám hộ cho ông Lê Xuân M, đại diện cho ông Minh trong việc xác lập thực hiện các giao dịch dân sự của ông Minh và có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật .
- Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Trương Thị G phải chịu 300.000đồng lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số AA/2013/002583 ngày 23 tháng 03 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền. Bà G đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
Người yêu cầu; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp người vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế - VKSND huyện Quảng Điền; - THADS huyện Quảng Điền; - Người yêu cầu; - Lưu HS, AV. | Trương Quốc Công |