- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 02/2018/QĐDS - ST Ngày: 09/3/2018 "V/v yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ trì phiên họp: Bà Đỗ Thu Hương – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thúy Dần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp: Bà Mai Thị Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mở phiên họp sơ thẩm công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2018/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018 về Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2018/QĐPH –ST ngày 23/02/2018.
I. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1. Người yêu cầu: UBND xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo pháp luật của người yêu cầu: Ông Nguyễn Ngọc Ng -
Chủ tịch UBND xã T, huyện Điện Biên
Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu: Ông Vì Văn B - Phó Chủ
tịch UBND xã T, huyện Điện Biên
II. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn T; SN: 1991; Trú tại: Đội 4, xã T, huyện Điện Biên
2. Chị Nguyễn Thị T; SN: 1983; Trú tại: Thôn T, xã N, huyện Điện Biên
3. Chị Phạm Thị Thanh V; SN: 1988; Trú tại: Đội 13B, xã T, huyện Điện
Biên.
III. Người làm chứng: Chị Lò Thị X - SN: 1982
Nơi công tác: UBND xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
(Ông B, chị X có mặt, anh T, chị V vắng mặt không có lý do, chị T vắng mặt
có lý do)
III. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghe ý kiến của của những người tham gia phiên họp, việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả của phiên họp Tòa án nhân dân huyện Điên Biên nhận định:
Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Điện Biên theo Khoản 1 Điều 29; Điểm b Khoản 2 Điều 35/BLTTDS. UBND xã T yêu cầu TAND huyện Điện Biên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh T và chị T là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình.
Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị Thanh V là vợ chồng ngày 20/5/2015 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 115/2015/QĐST-HNGĐ, ngày 20/5/2015. Tuy nhiên anh T và chị V đã quay lại chung sống với nhau và đăng ký kết hôn lại vào ngày 07/4/2016 tại UBND xã T, huyện Điện Biên. Khoảng tháng 10/2016, anh T và chị Nguyễn Thị T có quen biết nhau, anh T nói với chị T là anh T đã ly hôn vợ và cho chị T xem quyết định ly hôn năm 2015 của Tòa án, chị T tin là anh T đã bỏ vợ. Hai bên nảy sinh tình cảm đến ngày 18/8/2017, anh T và chị T đã đến UBND xã T, huyện Điện Biên làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi đăng ký kết hôn với anh T, chị T mới biết anh T chưa ly hôn vợ. Trong quá trình chung sống anh T và chị T không có con chung và cũng không có tài sản chung. Sau khi sự việc xảy ra UBND xã T đã xác minh lại và thấy rằng việc UBND xã đăng ký cho anh T và chị T là trái pháp luật. Ngày 29/01/2018 UBND xã T, huyện Điện Biên đã có đơn yêu cầu TAND huyện Điện Biên hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị T.
Tại các văn bản ngày 08/02/2018 của chị Phạm Thị Thanh V, ngày 12/02/2018 của anh Phạm Văn T, ngày 09/02/2018 của chị Nguyễn Thị T đều thừa nhận quan hệ hôn nhân của anh T và chị V đang còn giá trị pháp lý. Tại văn bản ngày 08/02/2017 chị Lò Thị X cán bộ Tư pháp xã T, huyện Điện Biên người đã kiểm tra các thủ tục pháp lý để làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh T và chị T cũng đã thừa nhận do cả tin anh T là người cùng xã nên có phần chủ quan và tin tưởng anh T chỉ xem quyết định ly hôn của anh T mà không không kiểm tra lại sổ theo dõi cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi anh Tuấn và hỏi lại UBND xã Thanh Luông nơi anh T có đăng ký hộ khẩu trước đây về việc anh T trước đó anh T có đăng ký kết hôn với ai không. Chị X đã thừa nhận thiếu sót của mình và xin được rút kinh nghiệm. Việc anh T đang còn tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp với chị Phạm Thị Thanh V nhưng lại đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T là trái pháp luật vi phạm Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T không được pháp luật công nhận và bảo vệ, cần bị hủy để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của chị V và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về lệ phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 149 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Điểm d Khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. UBND xã T, huyện Điện Biên không phải chịu lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 29; Điểm b Khoản 2 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
2. Tuyên bố: Hủy việc kết hôn giữa anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị T. Anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị T phải chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật. Hủy giấy chứng nhận kết hôn số 44 mang tên Phạm Văn T và Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 18/8/2017 tại UBND xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. UBND xã T, huyện Điện Biên có trách nhiệm thu hồi lại giấy chứng nhận kết hôn nêu trên của anh Phạm Văn T.
3. Về lệ phí: UBND xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên không phải chịu lệ phí Tòa án.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 09/3/2018. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐB; - VKSND huyện Đ.B; - Chi cục THADS huyện Đ.B; - Người yêu cầu; - Người có QL,NVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu kết quả. | THẨM PHÁN Đỗ Thu Hương |