vanban.org

Quyết định 02/2018/QĐ-TA

TAND huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Tuyên án 07/11/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Văn P1, sinh ngày 19/02/1994 tại tỉnh Bến Tre và chỗ ở hiện tại: Số 71/1, ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre; Con ông Trần Văn P2, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Bé B, sinh năm 1966 tại Cơ sở cai nghiện ma túy (địa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
Tỉnh Bến Tre

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2018/QĐ-TAP , ngày 07 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có :

- Thẩm phán: Bà Hồ Thị Triết

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Lộc

Ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 2369/2018/QĐ-TA ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Trần Văn P1 - Giới tính: Nam

Sinh ngày 19/02/1994 tại P

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 10/12

Nguyên quán: thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Hộ khẩu thường trú: Số 71/1 ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: Số 71/1, ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Tiền án: Không

Tiền sự: 02.

Con ông: Trần Văn P2, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Bé B, sinh năm 1966

Ông Trần Văn P1 đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý hồ sơ, quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Văn Hòa – Đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện P.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không có.

4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không có.

5. Những người khác: Không có.

NHẬN THẤY:

Ngày 19/10/2018 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn P1 do có hành vi sử dụng chất ma túy, cụ thể như sau: Từ năm 2014 đến năm 2018 Trần Văn P1 đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện P xử phạt hành chính 03 lần về hành vi này nhưng anh P1 chưa có thiện chí cai nghiện cụ thể P1 tiếp tục sử dụng nên ngày 01/12/2016 P1 bị Chủ tịch UBND thị trấn P ra quyết định áp dụng biện pháp Giáo dục tại, xã, phường, thị trấn về hành vi dụng trái phép chất ma túy. P1 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Giáo dục tại, xã, phường, thị trấn ngày 01/3/2017.

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 15/9/2018, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân phát hiện các đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy trong đó có thanh niên tên Trần Văn P1, sinh năm 1994, đăng ký thường trú: số 71/1 ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre. Công an thị trấn P đến xác minh, mời P1 về trụ sở cơ quan làm việc. Tại đây, P1 thừa nhận vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 12/9/2018 có sử dụng (hút trực tiếp qua đường hô hấp) trái phép chất ma túy (loại ma túy đá) ở KP1, thị trấn P nên Công an thị trấn P phối hợp với Trạm y tế Thị Trấn P tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng phương pháp thử nước tiểu bằng thanh thử Test loại Pas tep, kết quả xét nghiệm P1 dương tính, có sử dụng ma túy đầu que thử thể hiện một vạch ngang màu hồng tại điểm c, ký hiệu MET, Test Methamphetamine. Cùng ngày Công an thị trấn P tiến hành lập biên bản sự việc. Và cho tiến hành theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS) đối với P1. Kết quả xác định anh Trần Văn P1, sinh ngày 19/02/1994, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hiện nay số 71/1 ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre có nghiện ma túy tên loại ma túy sử dụng Amphetamine (ATS).

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P có ý kiến: Do Trần Văn P1 nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, qui định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn P1 là 18 tháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P xác định hồ sơ áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn P1 đã được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, do đó đề nghị Tòa án chấp nhận văn bản số 213/LĐTBXH, ngày 19/10/2018 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Bến Tre về việc xem xét xử lý vi phạm hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với anh Trần Văn P1 đăng ký thường trú tại: số 71/1, ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre tại Cơ sở cai nghiện ma túy (địa chỉ: ấp TX, xã TX, huyện BT, tỉnh Bến Tre) với thời gian là 18 tháng kể từ ngày anh P1 đến chấp hành Quyết định.

- Trần Văn P1 vắng mặt tại phiên họp nhưng có xác nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2014 đã bị xử phạt hành chính, từ năm 2014 đến 2018 bản thân sử dụng ma túy nhiều lần, loại ma túy sử dụng là ma túy đá; Đến ngày 12/9/2018 tiếp tục sử dụng ma túy. Trong quá trình làm việc anh P1 không có ý kiến gì đối với việc Tòa án áp dụng biện pháp buộc cai nghiện ma túy.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và lời trình bày của những người tham gia phiên họp, nhận định:

Từ năm 2014 đến năm 2018 Trần Văn P1 đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện P xử phạt hành chính 03 lần về hành vi này nhưng anh P1 chưa có thiện chí cai nghiện cụ thể P1 tiếp tục sử dụng nên ngày 01/12/2016 P1 bị Chủ tịch UBND thị trấn P ra quyết định áp dụng biện pháp Giáo dục tại, xã, phường, thị trấn về hành vi dụng trái phép chất ma túy. P1 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Giáo dục tại, xã, phường, thị trấn ngày 01/3/2017.

Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 12/9/2018 P1 tiếp tục có sử dụng (hút trực tiếp qua đường hô hấp) trái phép chất ma túy (loại ma túy đá) ở KP1, thị trấn P nên Công an thị trấn P phối hợp với Trạm y tế Thị Trấn P tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng phương pháp thử nước tiểu bằng thanh thử Test loại Pas tep, kết quả xét nghiệm P1 dương tính, có sử dụng ma túy đầu que thử thể hiện một vạch ngang màu hồng tại điểm c, ký hiệu MET, Test Methamphetamine. Công an thị trấn P tiến hành lập biên bản sự việc. Và cho tiến hành theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS) đối với P1. Kết quả xác định anh Trần Văn P1, sinh ngày 19/02/1994, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hiện nay số 71/1 ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre có nghiện ma túy tên loại ma túy sử dụng Amphetamine (ATS).

Xét thấy Trần Văn P1 là người đã thành niên, biết rõ ma túy là chất độc hại và sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của P1 đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư, do đó việc bắt buộc cai nghiện đối với P1 là cần thiết.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho thấy: Trần Văn P1 có 02 tiền sự về sử dụng trái phép chất ma túy và đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn đáng lẽ ra P1 phải học tập, lao động để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên xem đây là tình tiết tăng nặng; Trong quá trình lập hồ sơ, P1 đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ cho P1. Tuy nhiên, P1 nghiện ma túy từ năm 2014 cho đến nay và đã nhiều lần có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cần phải có thời gian cai nghiện dài mới giúp P1 chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề để có ý chí vươn lên trong cuộc sống và từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Trần Văn P1 thuộc đối tượng áp dụng biên pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, 10, 95, 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Văn P1, sinh ngày 19/02/1994 tại tỉnh Bến Tre và chỗ ở hiện tại: Số 71/1, ấp TQ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bến Tre; Con ông Trần Văn P2, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Bé B, sinh năm 1966 tại Cơ sở cai nghiện ma túy (địa chỉ: ấp TA, xã TX, huyện BT, tỉnh Bến Tre).

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (Mười tám tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Trần Văn P1 được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P được quyền kiến nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện P được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện P, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ