- Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện bắt buộc Lý Phi N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N.
- Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG A Số: 02 /2018/QĐ-TA | , ngày 24 tháng 01 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Sáu.
2. Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Minh Nhựt.
Ngày 24 tháng 01 năm 2018, tại Cơ sở Điều trị - Cai nghiện ma túy tỉnh An Giang, tiến hành phiên họp xem xét,quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 06/QĐ-TA ngày 16 tháng 01 năm 2018, đối với:
Họ và tên: Lý Phi N; Giới tính: Nam; sinh ngày 12 tháng 06 năm 1991; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 09/12; Nguyên quán: Xã K, huyện A, tỉnh An Giang; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Mua bán.
Tiền án: Chưa.
Tiền sự: 01 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Con ông Lý Văn B, sinh năm 1955 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1955.
Vợ Nguyễn Thị Kim S; có 02 con, con lớn 06 tuổi, nhỏ 02 tuổi.
Lý Phi N có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Khánh – Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội huyện A làm đại diện theo ủy quyền.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A: Ông Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên.
3. Những người khác: Không.
NHẬN THẤY:
Ngày 13/12/2017, Lý Phi N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 14/12/2017 tiến hành test xác định được, Lý Phi N dương tính với chất Metamphetamine.
Ngày 14/12/2017, Ủy ban nhân dân thị trấn L có Quyết định số 235/QĐ-UBND, giao đối tượng cho Cơ sở Điều trị - Cai nghiện ma túy tỉnh An Giang tạm quản lý, đồng thời có Đề nghị số 102/ĐN-UBND, đề nghị Tòa án nhân dân huyện A áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N.
Hồ sơ đã được Phòng Tư pháp huyện A thẩm tra ngày 05/01/2018.
Ngày 10/01/2018 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A có Bản đề nghị số: 05/ĐN-LĐTBXH, đề nghị Tòa án nhân dân huyện A quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N với thời hạn là 24 tháng.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A giữ nguyên đề nghị số 05/ĐN-LĐTBXH ngày 10/01/2018, với các lý do: Lý Phi N đã sử dụng ma túy nhiều lần, đã thành con nghiện. N đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương nhưng không sửa đổi.
Lý Phi N thừa nhận có sử dụng ma túy từ năm 2016 và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời gian là 03 tháng kể từ ngày 01/06/2016. Sau khi chấp hành xong thời gian giáo dục tại thị trấn, ngày 13/01/2018 N có sử dụng ma túy tại nhà và bị bắt đưa vào Cơ sở điều trị cai nghiện. Loại ma túy mà N sử là ma túy đá. N thừa nhận hành vi vi phạm và xin giảm thời gian cai nghiện bắt buộc để được sớm về lo lao động phụ giúp gia đình, nuôi con còn nhỏ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N được thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Thành phần tiến hành phiên họp đúng quy định. Tại phiên họp, N cũng đã thừa nhận đã sử dụng ma túy nhiều lần, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn tái phạm. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A, áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N. Tuy nhiên, về thời gian cai nghiện bắt buộc mà Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A đề nghị là cao, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ để ấn định mức thời gian cho phù hợp.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ: Hồ sơ có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, gồm: Biên bản vi phạm hành chính, phiếu xét nghiệm hóa sinh, bản tường trình và lý lịch của đối tượng, thông báo về việc lập hồ sơ đưa vào cai nghiện, bản đề nghị của Ủy ban nhân dân thị trấn L, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thông báo về việc thẩm tra hồ sơ của phòng tư pháp huyện A và bản đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A. Các biễu mẫu thực hiện đúng quy định, làm rõ được tiền sự và nơi cư trú nhưng chưa làm rõ được hoàn cảnh nhân thân và mức độ nghiện của người bị đề nghị.
Về nội dung đề nghị: Theo tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của Lý Phi N tại phiên họp, xác định được N đã sử dụng ma túy từ năm 2016 và đã sử dụng rất nhiều lần. Loại ma túy mà N thường sử dụng là ma túy đá. Lý Phi N đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời gian là 03 tháng (Từ 01/06/2016 đến 01/09/2016). Sau khi chấp hành xong thời hạn giáo dục, thì N lại tiếp tục sử dụng ma túy. Xác định đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A, đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N là đúng quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm: Lý Phi N là thanh niên có đầy đủ năng lực hành vi, đã có vợ con ổn định; biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm nhưng vẫn cố tình thực hiện. N không hiểu hết tác hại của ma túy đối với trạng thái thần kinh, sức khỏe con người mà nhất là đối với thanh niên trong độ tuổi lao động. Sử dụng ma túy nó còn làm ảnh hưởng kinh tế gia đình và ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Việc N sử dụng ma túy sau khi chấp hành biện pháp giáo dục tại địa phương đã cho thấy tính xem thường pháp luật và không thể tự cai nghiện được tại nhà. Do đó, cần đưa Lý Phi N vào diện cai nghiện bắt buộc mới có thể giúp Năng cai nghiện. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn góp phần vào công cuộc phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm nói chung và phòng, chống vi phạm hành chính nói riêng. Đây là chế tài vừa mang tính cưỡng chế vừa thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục đích, áp dụng biện pháp này xuất phát từ lợi ích của người có hành vi vi phạm pháp luật về ma túy. Cần phải cách ly những người nghiện ma túy ra khỏi môi trường xã hội trong một thời gian để quản lý, giáo dục và tạo dựng môi trường mới, giúp họ sửa chữa những sai phạm của mình và có điều kiện cắt cơn, giải độc, hướng nghiệp, sinh hoạt lành mạnh…
Về thời gian áp dụng : Trong khoảng thời gian được cán bộ của Cơ sở Điều trị - Cai nghiện ma túy tỉnh An Giang tư vấn, giáo dục, Lý Phi N đã nhận thức được hành vi sai trái, hiểu được phần nào tác hại và sự nguy hiểm của chất ma túy. Đối tượng đã tạm cắt được cơn nghiện. Tại phiên họp, Lý Phi N đã thành khẩn khai báo quá trình sử dụng ma túy và hứa quyết tâm cai nghiện; N có có hai con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Do đó, N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2, khoản 8 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét cần áp dụng mức thời hạn 15 tháng đối với Lý Phi N có thể có đủ thời gian cho Năng cai nghiện, thấy rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình nói riêng và đối với cộng đồng nói chung; có đủ thời gian cho Lý Phi N hồi phục sức khỏe, tái hòa nhập cộng đồng, chăm lo lao động sản xuất, trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội về sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 95, 96, 105, 110 ; khoản 2, khoản 8 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính; các điều 30, 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Phi N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 14/12/2017 (Ngày mười bốn tháng mười hai năm hai ngàn không trăm mười bảy).
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày công bố quyết định (ngày 24/01/2018), người bị đề nghị Lý Phi N có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương Binh – Xã Hội huyện A có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện A có quyền kháng nghị.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện A chủ trì phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện A; Cơ sở Điều trị - Cai nghiện ma túy tỉnh An Giang thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện A; - Phòng LĐ-TBXH huyện A; - UBND TT L; - Công an huyện An; - Người bị áp dụng CNBB; - Cơ sở cai nghiện; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trần Văn Sáu |