vanban.org

Quyết định 02/2017/QĐVHNGĐ-ST — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh về việc yêu cầu “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” đối với cháu Phạm Ngọc Th, sinh ngày 29/11/2010.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giao cháu Phạm Ngọc Th cho bà Trần Thị Trúc Nh trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh về việc yêu cầu “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” đối với cháu Phạm Ngọc Th, sinh ngày 29/11/2010.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 02/2017/QĐVHNGĐ-ST
Ngày 31 – 7 – 2017
V/v: “Yêu cầu chấm dứt việc
nuôi con nuôi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Với thành phần giải quyết việc Hôn nhân và Gia đình:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Nam - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thánh phố Long Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2017/TLST-VDS ngày 10 tháng 7 năm 2017 về yêu cầu “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp số: 12/2017/QĐPH - VDS ngày 18 tháng 7 năm 2017:

1. Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và Gia đình:

Ông Phạm Thành M, sinh năm 1985.

Bà Huỳnh Thị Nh, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: số 15 + 16, tổ 14, đường L, phường Đ, thành phố A, tỉnh An Giang.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cháu Phạm Ngọc Th, sinh ngày 29/11/2010.

Địa chỉ: số 15 + 16, tổ 14, đường L, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.

Bà Trần Thị Trúc Nh, sinh năm 1986 (mẹ đẻ cháu Th).

Địa chỉ: ấp T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Ông Phạm Thành M và bà Huỳnh Thị Nh có quan hệ là vợ chồng. Tháng 11 năm 2016, ông M và bà Nh xin nhận nuôi cháu Trần Thị Trúc Th theo giấy khai sinh số 250/TLKS ngày 14/7/2016 tại UBND thị trấn N, huyện Th) và được bà Trần Thị Trúc Nh là mẹ đẻ của cháu Th làm tờ cam kết đồng ý cho con. Hai bên tiến hành đã làm thủ tục và được UBND phường Đ, thành phố A chứng nhận nuôi con nuôi ngày 03/11/2016. Đến ngày 29/11/2016, UBND thị trấn N, huyện Th cấp giấy khai sinh số 434 với họ tên Phạm Ngọc Th, họ tên cha ông Phạm Thành M, họ tên mẹ bà Huỳnh Thị Nh.

Sau khi cháu Th được nhận làm con nuôi, vợ chồng ông M, bà Nh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thương yêu và cháu Th được đi học lớp 1 tại Trường tiểu học Châu Văn L, phường M, thành phố A, hiện đã nghỉ hè chuẩn bị lên lớp 2. Trong thời gian này, bà Nh vì quá thương nhớ con nên thường xuyên đến thăm nom và cháu Th cũng thương nhớ mẹ đẻ nên ông M, bà Nh quyết định trao trả cháu Th lại cho bà Nh và yêu cầu Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Ngọc Th.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: cháu Phạm Ngọc Th yêu cầu được về sống với bà Nh, vì em rất nhớ mẹ, mặc dù thời gian qua cháu được cha mẹ nuôi chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục rất tốt. Bà Trần Thị Trúc Nh cũng đồng ý nhận lại cháu Th, vì bà luôn thương nhớ con nên cứ thường xuyên đến thăm cháu Th, làm cho cháu không quên mẹ đẻ được.

Tại phiên họp:

Bà Trần Thị Trúc Nh đồng ý nhận lại cháu Phạm Ngọc Th (Trần Thị Trúc Th) để tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng sau khi có Tòa án giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Phạm Thành M và Huỳnh Thị Nh. Ngoài ra, bà Nh cho rằng khi khai sinh cháu Th, do bà và cha đẻ của cháu Th không đăng ký kết hôn nên giấy khai sinh chỉ có tên bà Nh và các thủ tục cho nhận con nuôi do bà Nh thực hiện.

Ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh, bà Trần Thị Trúc Nh thống nhất thời gian cháu Phạm Ngọc Th sống với cha mẹ nuôi không có tài sản riêng và không đóng góp vào khối tài sản của cha mẹ nuôi.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên:

Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng đúng thời gian luật định và việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu, người bị yêu cầu được thực hiện theo Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông M, bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” đối với cháu Phạm Ngọc Th và được bà Trần Thị Trúc Nh (mẹ đẻ cháu Th) đồng ý nhận lại con là phù hợp với Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi 2010. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xem xét chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” đối với cháu Phạm Ngọc Th.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân và Gia đình được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp và ý kiến của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Ngọc Th, yêu cầu này là việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, được quy định tại khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung yêu cầu:

Tháng 11/2016, ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh thỏa thuận với bà Trần Thị Trúc Nh nhận cháu Trần Thị Trúc Th, sinh ngày 29/11/2010 làm con nuôi và được chính quyền địa phương chứng nhận nuôi con nuôi và khai sinh lại cho con nuôi tên là Phạm Ngọc Th, họ tên cha mẹ là ông M, bà Nh. Thời gian chung sống với cha mẹ nuôi, cháu Th và bà Nh đều thừa nhận ông M, bà Nh chăm sóc, nuôi dạy tốt nhưng do bà Nh nhớ con nên thường xuyên đến thăm cháu Th và cháu cũng thương nhớ bà Nh nên ông M, bà Nh thống nhất giao cháu Th lại cho mẹ đẻ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Ngọc Th.

Xét thấy, việc thỏa thuận của ông M, bà Nh với bà Trần Thị Trúc Nh là tự nguyện và nguyện vọng của cháu Th được về sống với mẹ đẻ được Tòa án ghi nhận tại biên bản lấy lời khai ngày 10/7/2017. Do đó, việc ông M, bà Nh yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu Phạm Ngọc Th, sinh ngày 29/11/2010 là có căn cứ, phù hợp với Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010 nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm: Ông Phạm Thành M và bà Huỳnh Thị Nh phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ áp dụng:

Khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 369; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi 2010;

Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Thành M, bà Huỳnh Thị Nh về việc yêu cầu “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” đối với cháu Phạm Ngọc Th, sinh ngày 29/11/2010.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Giao cháu Phạm Ngọc Th cho bà Trần Thị Trúc Nh trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Cháu Phạm Ngọc Th hoặc cha đẻ, mẹ đẻ của cháu Th có quyền yêu cầu thay đổi họ, tên khi cháu Th thôi làm con nuôi theo qui định pháp luật.

Lệ phí sơ thẩm: Ông Phạm Thành M và bà Huỳnh Thị Nh phải liên đới nộp nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0017873 ngày 10/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Ông M, bà Nh đã thực hiện xong.

Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày mở phiên họp.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ