- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Nguyễn Ngọc T- Quang Thị Bích T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T, tuyên bố bà Quang Thị Bích T, sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại Đường V, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L là người mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật tố tụng dân; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 01/2017/QĐVDS-ST Ngày 19/10/2017 “Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
Với thành phần gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Kim Diệu.
Thư ký Toà án: Bà Phạm Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tham gia phiên họp: Ông Trần Văn Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường đã mở phiên họp công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số 61/2017/TLST-VDS ngày 03 tháng 7 năm 2017 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo quyết định mở phiên họp số 02/2017/QĐ-MPH ngày 09 tháng 10 năm 2017, giữa các đương sự:
Người yêu cầu: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965; địa chỉ: Đường V, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L.
Yêu cầu đối với: Bà Quang Thị Bích T, sinh năm 1968; địa chỉ: Đường V, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Quang Thanh T (tên thường gọi là L), sinh năm 1962; địa chỉ: ấp C, xã V, huyện T, tỉnh L.
- Bà Quang Thị Ngọc L, sinh năm 1963; địa chỉ: Đường V, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L.
- Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1972; địa chỉ: phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN THẤY:
Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 21 tháng 6 năm 2017 và tại phiên họp bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Bà Quang Thị Bích T với bà T là chị em ruột. Bà T có ông nội ruột tên Quang Tấn X, sinh năm 1905 (đã chết) và bà nội ruột tên Nguyễn Thị M, sinh năm 1903 (đã chết); ông ngoại ruột tên Nguyễn Thành H, sinh năm 1915 (đã chết) và bà ngoại ruột tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1918 (đã chết); cha ruột tên Quang Văn H, sinh năm 1923 (đã chết) và mẹ ruột tên Nguyễn Thị S, sinh năm 1935 (đã chết). Cha mẹ ruột của bà T có 04 người con chung gồm: Ông Quang Thanh T, bà Quang Thị Ngọc L, bà Quang Thị Bích T và bà Nguyễn Ngọc T. Sau khi cha bà T chết, mẹ của bà T chung sống với ông Trần Văn Cang sinh được một người con chung tên Trần Thị T N. Hiện nay, bà T đang sống chung nhà với bà T do bà T bị mất trí nhớ từ nhỏ và được địa phương trợ cấp hàng tháng theo chế độ nhà nước. Bà T từ trước đến nay còn độc thân, chưa kết hôn với bất kỳ người nào. Bà T chỉ có ông X, bà M là ông bà nội ruột; ông H, bà N là ông bà ngoại ruột; ông H, bà S là cha mẹ ruột. Ngoài ra, bà T không có là ông bà nội nuôi, ông bà ngoại nuôi, cha mẹ nuôi và không có con riêng, cũng không có con nuôi. Bà T hiện đang bị bệnh tâm thần đã có bản kết luận giám định pháp sức khỏe tâm thần số 3563/2017/DV/TTPYTTKV ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Về y học thì bà T bị chậm phát triển tâm thần, mức độ trung bình kèm biến đổi nhân cách/Động kinh (F71/G40-ICD10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi bà T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Nay bà T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường tuyên bố bà T là một người mất năng lực hành vi dân sự. Mục đích bà T yêu cầu nhằm để bà T có đủ điều kiện giám hộ cho bà T trong việc làm hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và làm thủ tục pháp lý khi cần thiết.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ông Quang Thanh T, bà Quang Thị Ngọc L, bà Trần Thị Tuyết N trình bày: Ông bà xác định lời trình bày trên của bà T là hoàn toàn đúng sự thật. Ông bà đồng ý với yêu cầu của bà T là yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T là một người mất năng lực hành vi dân sự. Ông bà không có trình bày gì bổ sung thêm.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tham gia phiên họp phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Căn cứ khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự thì về tố tụng từ khi thụ lý vụ việc cho đến trước thời điểm mở phiên họp Thẩm phán đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án đã xác định đúng tư cách đương sự tham gia tố tụng, loại việc yêu cầu, gửi hồ sơ Viện kiểm sát và đưa vụ việc ra mở phiên họp đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định về của pháp luật khi tham gia tố tụng, nên Kiểm sát viên không có đề nghị hay kiến nghị gì.
Về nội dung vụ việc: Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện tại lời khai và yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T; bản tự khai và lời trình bày của ông Quang Thanh T, bà Quang Thị Ngọc L, bà Trần Thị Tuyết N; bản kết luận giám định pháp sức khỏe tâm thần số 3563/2017/DV/TTPYTTKV ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tài liệu trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định bà T mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường chấp nhận yêu cầu của bà T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T, sinh năm 1968 là người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự; các Điều 370, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường.
XÉT THẤY:
1/ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn yêu cầu ngày 21 tháng 6 năm 2017 của bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại Đường V, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L là người mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc dân sự yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự nên việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường.
2/ Về yêu cầu của bà T:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc;
Căn cứ vào lời trình bày của bà T và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan - Ông Quang Thanh T, bà Quang Ngọc L, bà Trần Thị Tuyết N;
Căn cứ vào bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 3563/2017/DV/TTPYTTKV ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Về y học thì bà T bị chậm phát triển tâm thần, mức độ trung bình kèm biến đổi nhân cách/Động kinh (F71/G40-ICD10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì bà T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.
Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở để kết luận bà T, sinh năm 1968 là người mất năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, yêu cầu của bà và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tại phiên họp là có căn cứ.
3/ Về người giám hộ: Theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật dân sự thì bà T, ông T, bà L, bà N là anh chị em ruột của bà T thống nhất thỏa thuận giao cho bà T làm người giám hộ cho bà T. Tuy nhiên, cần xác định điều kiện của cá nhân của người giám hộ theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật dân sự. Do đó, bà T được quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú của bà T để thực hiện thủ tục cử người giám hộ.
4/ Về lệ phí: các Điều 4, 6, 35, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 40; các Điều 361, 370, 376, 378 của Bộ luật tố tụng dân; Điều 22 của Bộ luật dân sự; các Điều 4, 6, 35, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T, tuyên bố bà Quang Thị Bích T, sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại Đường V, khu phố 2, phường 1, thị xã K, tỉnh L là người mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
2. Bà Nguyễn Ngọc T được quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú của bà Quang Thị Bích T để thực hiện thủ tục cử người giám hộ.
3. Về lệ phí: Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nộp ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006454 ngày 28 tháng 6 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Bà Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có QL,NVLQ; - TAND tỉnh Long An; - VKSND thị xã Kiến Tường; - Chi cục THA.DS thị xã Kiến Tường; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thị Kim Diệu |