- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố chị Vòng Nhì M, sinh năm 1984; có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước là người đã chết ngày 11/4/2011.
- Căn cứ chính? Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐST-DS | Bù Đăng, ngày 26 tháng 5 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
v/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Đào
- Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2022/TLST- VDS, ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2022/QĐST-VDS ngày 23 tháng 5 năm 2022
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vòng Nhì M, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆCDÂNSỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự , biên bản lấy lời khai của người yêu cầu và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ việc dân sự thì nội dung việc dân sự như sau:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960 và ông Vòng Văn Hay, sinh năm 1961 có 03 người con chung là chị Vòng Nhì M, sinh năm 1984; anh Vòng Dường S, sinh năm 1985 và anh Vòng Tứ Đ, sinh năm 1987.
Chị Vòng Nhì M từ khi sinh ra cho đến khi bỏ đi đều sống cùng với bà T, ông H và anh Đ, anh S. Do chị M bị bệnh tâm thần từ nhỏ nên thường xuyên bỏ nhà đi nhưng gia đình đều tìm thấy chị M và đưa về nhà. Tuy nhiên, vào ngày 13/3/2006 Âm lịch (ngày 10/4/2006 Dương lịch) chị M tiếp tục bỏ nhà đi, gia đình đã đi tìm kiếm nhiều lần, nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của chị M, chị M cũng không liên lạc gì với gia đình. Năm 2006, gia đình bà T đã làm thủ tục đăng tin trên đài truyền hình Bình Phước nhưng cũng không có thông tin gì của chị M. Từ khi chị M bỏ nhà đi cho đến nay gia đình không có tin tức xác thực chị M còn sống hay đã chết. Trước khi bỏ đi chị M chưa kết hôn cũng không có tài sản gì.
Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng tuyên bố chị Vòng Nhì M là người đã chết.
Tại phiên họp người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Vòng Nhì M là người đã chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng có quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, tuyên bố chị Vòng Nhì M; nơi cư trú cuối cùng Thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước đã chết. Về quan hệ nhân thân và tài sản liên quan đến chị M được giải quyết như đối với người đã chết.
Về lệ phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được xem xét tại phiên tòa; ý kiến của các đương sự và của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Vòng Nhì M có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với chị Vòng Nhì M thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị T:
Chị Vòng Nhì M bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là Thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước từ tháng 3/2006 Âm lịch (tháng 4/2006 Dương lịch) cho đến nay. Bà Nguyễn Thị T, anh Vòng Tứ Đ, anh Vòng Dường S là em trai của chị M và chính quyền xã Đức Liễu là nơi cư trú cuối cùng của chị M cũng xác nhận chị M bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 4/2006 cho đến nay mà không có tin tức xác thực chị M còn sống.
Sau khi thụ lý vụ việc Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị Vòng Nhì M và tiến hành đăng báo tìm kiếm chị M trên báo Thanh Niên trong 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 19, 20, 21/01/2022; đăng tin trên Đài truyền hình Việt Nam 03 lần vào các ngày 19, 20, 21/01/2022 và đăng tin trên Cổng thông tin của Tòa án theo quy định khoản 2 Điều 388 và khoản 2 Điều 392 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức xác thực là chị Vòng Nhì M còn sống hay đã chết. Như vậy, chị Vòng Nhì M đã biệt tích 16 năm liền mà không có thông tin xác thực là còn sống, do đó yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố chị Vòng Nhì M đã chết là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự.
Về ngày chết của chị Vòng Nhì M: Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị M cư trú cuối cùng là xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước thì chị M bỏ biệt tích từ khoảng tháng 4/2006 Dương lịch. Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị T và anh Vòng Tứ Đ, anh Vòng Dường S (là anh trai của chị M) thì đều xác định ngày chị M bỏ đi biệt tích là ngày 13/3/2006 Âm lịch (ngày 10/4/2006 Dương lịch). Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 68 và khoản 1, 2 Điều 71 thì ngày chết của chị M được xác định là ngày 10/4/2011.
Về hậu quả pháp lý của việc chị Vòng Nhì M bị tuyên bố là đã chết: Khi Quyết định của Tòa án tuyên bố chị M đã chết có hiệu lực pháp luật thì về quan hệ về nhân thân, quan hệ về tài sản của chị M được giải quyết như đối với người đã chết.
Về lệ phí của Tòa án: Bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 361, 370, 371, 372, 391; khoản 1 và 2 Điều 392 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các điều 68, 71, 72 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố chị Vòng Nhì M, sinh năm 1984; có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn 7, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước là người đã chết ngày 11/4/2011.
2. Về hậu quả pháp lý của việc chị Vòng Nhì M bị tuyên bố là đã chết: Về quan hệ nhân thân và quan hệ về tài sản của chị M được giải quyết như đối với người đã chết.
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà bà T đã nộp trước đó là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000128 ngày 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
4. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị yêu cầu tuyên bố đã chết thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
5. Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - Chi cục THADS huyện Bù Đăng; - UBND xã A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Thị Đào |