vanban.org

Quyết định 01/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh L tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 09/10/2024). Quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị đối với quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh L tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/QĐ-TABến Cát, ngày 03 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hồ Thế Chính.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hiền.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 40/QĐ-TA ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Trần Thanh L, sinh năm 1991 tại Đ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 5/12; hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đ; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; con ông T và bà Phan Thị H; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Tại Quyết định số: 196/QĐ-UBND ngày 09/10/2024 của Ủy ban nhân dân phường An Tây giao Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc Oanh - Phó Trưởng phòng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai xác định, Trần Thanh L là đối tượng nghiện ma túy. Trần Thanh L sử dụng ma túy từ năm 2022 cho đến nay, hình thức sử dụng là hút.

Tại Phiếu trả lời kết quả ngày 03/10/2024 của Trạm Y tế phường An Tây xác định Trần Thanh L đã sử dụng ma túy (Methamphetamine).

Ngày 03/10/2024, Công an phường An Tây tiến hành làm việc đối với Trần Thanh L yêu cầu trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày 03/10/2024 phải tiến hành đăng ký cai nghiện tự nguyện tại địa phương nhưng Trần Thanh L không thực hiện.

Tại phiên họp, Trần Thanh L khai nhận lần gần nhất sử dụng ma túy là ngày 08/10/2024. Ngày 09/10/2024, Ủy ban nhân dân phường An Tây đã tiến hành lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Thanh L.

Ngày 09/10/2024, Công an phường An Tây gửi Giấy đề nghị số: 160/GĐN-CAP yêu cầu Trạm Y tế phường An Tây xác định lại Trần Thanh L có sử dụng trái phép chất ma túy hay không và loại ma túy sử dụng. Tại Phiếu trả lời kết quả ngày 09/10/2024 của Trạm Y tế phường Chánh Phú Hòa xác định Trần Thanh L đã sử dụng ma túy (Methamphetamine).

Tại Văn bản số: 40/ĐN-CNBB ngày 27/12/2024 và tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Bến Cát trình bày đề nghị: Đối tượng Trần Thanh L sử dụng ma túy từ năm 2022 cho đến nay, hình thức sử dụng là hút. Lần gần nhất, Trần Thanh L sử dụng ma túy là ngày 08/10/2024. Đối tượng Trần Thanh L không nơi cư trú nhất định và không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Trần Thanh L vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương với thời hạn 15 tháng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh L đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền và Thẩm phán tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần Thanh L vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương với thời hạn từ 14 tháng đến 16 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Bến Cát và đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có đủ cơ sở kết luận:

Về đối tượng áp dụng: Trần Thanh L là người đủ 18 tuổi. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế phường An Tây và biên bản xét nghiệm chất ma túy xác định, Trần Thanh L là người nghiện ma túy. Tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh và tại phiên họp xác định, Trần Thanh L không có nơi cư trú nhất định và không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh L là đúng đối tượng, đúng hành vi vi phạm, phù hợp với quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Về thời hiệu áp dụng: Ngày 09/10/2024, Ủy ban nhân dân phường An Tây lập biên bản vi phạm đối với Trần Thanh L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), hành vi của Trần Thanh L trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đảm bảo quy định tại Điều 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 40, Điều 41, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về tình tiết giảm nhẹ: Đối tượng Trần Thanh L tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Đối tượng Trần Thanh L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của người sử dụng, là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại địa phương nhưng Trần Thanh L vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần phải xem xét áp dụng một thời gian phù hợp đối với Trần Thanh L là cần thiết để chữa bệnh, lao động, học tập trở thành công dân tốt.

Xét ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Bến Cát và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đề nghị áp dụng biện pháp đưa đối tượng Trần Thanh L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thanh L tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 09/10/2024).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị đối với quyết định:

Đối tượng Trần Thanh L có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Bến Cát có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Bến Cát, Công an thành phố Bến Cát và Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.

Cỡ chữ