- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu đối với Trịnh Hoàng N, sinh năm 1985.
- Căn cứ chính? Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐ-TA | TP. Bạc Liêu, ngày 06 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Quốc Trung.
2. Thư ký phiên họp: Ông Bùi Công Bằng.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 88/QĐ-TA ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Trịnh Hoàng N (tên gọi khác: C) - Sinh năm 1985
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 148B/7, Khóm 6, Phường 7, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu;
Chỗ ở: Số 148B/7, Khóm 6, Phường 7, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu;
Nghề nghiệp: Không;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: Không biết chữ;
Tiền án: Không;
Tiền sự: 01 lần;
Con ông Trịnh Văn T (đã chết) và bà Bùi Thị M (đã chết).
Trịnh Hoàng N vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Cao Thảo N – Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B.
1
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Bà Lý Thể Dung – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Trịnh Hoàng N, sinh năm 1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 148B/7, Khóm 6, Phường 7, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Tại Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 02/8/2021 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường 7, thành phố B đã quyết định áp dụng biện pháo giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng đối với Trịnh Hoàng N. Tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01/11/2021 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Phường 7, thành phố B đã quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Trịnh Hoàng N.
Theo nội dung Biên bản vi phạm hành chính ngày 29/10/2021 do Công an Phường 7, thành phố B lập thể hiện ngày 28/10/2021 Trịnh Hoàng N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại Khóm 6, Phường 7, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Tại Biên bản mời người nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy ngày 29/10/2021, Biên bản ghi lời khai ngày 29/10/2021, Bản tường trình ngày 29/10/2021, Trịnh Hoàng N khai nhận, bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2016 cho đến nay, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 28/10/2021, tại Khóm 6, Phường 7, thành phố B; loại ma túy sử dụng là ma tuý đá, hình thức sử dụng là hút. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 29/10/2021 của Bệnh viện chuyên khoa tâm thần thể hiện Trịnh Hoàng N có nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (MET) và Amphetamine (AMP).
Tại phiên họp, bà Cao Thảo N đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu thời hạn từ 12 - 24 tháng.
Người bị đề nghị Trịnh Hoàng N vắng mặt, nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý và mở phiên họp, Tòa án chấp hành đúng quy định pháp luật. Xét thấy đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trịnh Hoàng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Qua nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N; trên cơ sở đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B; ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên và các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy:
2
Về việc vắng mặt người bị đề nghị tại phiên họp: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định mở phiên họp và giấy triệu tập cho đối tượng Trịnh Hoàng N đến tham gia phiên họp nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết vụ việc.
Về thẩm quyền: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N đầy đủ và đúng quy định tại các Điều 95, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 8, 9, 10, 11, 12 và Điều 13 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Về thời hiệu: Căn cứ biên bản ghi lời khai và bản tường trình cùng ngày 29/10/2021 Trịnh Hoàng N khai nhận, bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2016 cho đến nay, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 28/10/2021, tại Khóm 6, Phường 7, thành phố B; loại ma túy sử dụng là ma tuý đá, hình thức sử dụng là hút. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 29/10/2021 của Bệnh viện chuyên khoa tâm thần thể hiện Trịnh Hoàng N có nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (MET) và Amphetamine (AMP). Như vậy, tính đến thời điểm mở phiên họp thì còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi pham hành chính.
Trịnh Hoàng N là đối tượng nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nghiện ma tuý, nên là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm của Trịnh Hoàng N đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Bản thân N là người trưởng thành, có đủ sức khỏe để lao động, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nhưng không siêng năng lao động để lo cho gia đình mà lại sử dụng ma túy nhằm thỏa mãn cơn nghiện, là một trong những tệ nạn xã hội hiện nay được mọi người quan tâm và ra sức loại trừ. Hiện nay, N có nơi cư trú ổn định nhưng do nghiện ma túy, đã được áp dụng biện
3
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và bị chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Trịnh Hoàng N không tiến bộ, không thực hiện đúng như cam kết mà vẫn còn nghiện và tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nên khả năng tự cai nghiện là không có. Do vậy, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho Trịnh Hoàng N để N có điều kiện tái hòa nhập với xã hội thì việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng N theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố B là cần thiết.
Về nhân thân: Bản thân N thừa nhận bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2016 đến nay, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (MET) và Amphetamine (AMP), nên cần đưa N vào cơ sở cai nghiện một thời gian nhất định để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho N.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trịnh Hoàng N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, đề nghị đưa Trịnh Hoàng N vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ nên được chấp nhận.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận theo đề nghị của Phòng lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bạc Liêu đối với Trịnh Hoàng N, sinh năm 1985.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày Trịnh Hoàng N bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trịnh Hoàng N có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B phối hợp với Công an thành phố B thi hành quyết định này.
4
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành phố B; - Công an thành phố B; - Phòng LĐ-TB & XH thành phố B; - UBND Phường 7, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; - Người bị áp dụng; - Lưu VP, hồ sơ. 5 | (Đã ký) Trần Quốc Trung |