- Tranh chấp gì? "nguyễn thành công"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành C.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Bình.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đào Minh Chính.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 01/QĐ-TA ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai đối với Nguyễn Thành C, sinh ngày 14/8/1996; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; con ông Nguyễn Thành S và bà Thái Thị Thu T; Nguyễn Thành C vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Trưởng phòng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai: Ông Nguyễn Chí Linh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Thành C là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Ngày 27/12/2024, bị Công an xã T, huyện Đ lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã T, huyện Đ ngày 19/12/2024, xác định Nguyễn Thành Ch nghiện ma túy loại Metham phetamine (ma túy đá).
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ ý kiến: Xét thấy C là người nghiện ma túy, đủ 18 tuổi. Việc C nghiện ma túy đã vi phạm vào khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C đúng theo quy định của pháp luật, hồ sơ, trình tự thủ tục đầy đủ; thẩm quyền giải quyết, tư cách người tham gia phiên họp đúng theo quy định, phiên họp diễn ra đúng trình tự, tuân theo pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
Người bị đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Nguyễn Thành C vắng mặt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ch của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 2 mục 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
C là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi. Ngày 27/12/2024 bị Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai lập biên bản vi phạm về cai nguyện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nguyện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng chất phiện bằng thuốc thay thế và tại bản tường trình ngày 16/12/2024 có nội dung, C sử dụng ma túy vào năm 2020, đến ngày 15/12/2024 C tiếp tục sử dụng ma túy với hình thức sử dụng là hút ma túy đá. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã T, huyện Đ ngày 19/12/2024, xác định Nguyễn Thành C nghiện ma túy loại loại Metham phetamine (ma túy đá).
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 mục 3 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Chương là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét thấy C là người có đủ nhận thức và năng lực hành vi, mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C đã xâm phạm đến bản thân, gia đình và an ninh trật tự và an toàn xã hội. Sau khi bị quản lý tại địa phương C không lấy đó làm bài học cho bản thân, chưa nhận thức được việc sử dụng ma túy là trái pháp luật. Vì vậy, cần phải tiếp tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với C.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng C được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Mục 1 Chương V Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai và Kiểm sát viên tham gia phiên họp đều thống nhất việc C là đối tượng nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến gia đình và xã hội, nên việc đưa đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Nhà nước là cần thiết.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6, các Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 107, Điều 108 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Mục 1 Chương V Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
Căn cứ vào các Điều 3, Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào các Điều 4, Điều 8 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành C.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày có biên bản về việc giao nhận hồ sơ, người bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 27 tháng 12 năm 2024.
3. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Pơ có quyền kháng nghị; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đak Pơ có quyền kiến nghị Quyết định này, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền làm đơn khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hợp lệ.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị, kiến nghị, khiếu nại mà không có kháng nghị, kiến nghị, khiếu nại.
5. Công an huyện Đ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ phối hợp với Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai thi hành quyết định này. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- VKSND huyện Đ;
- Công an huyện Đ;
- Phòng LĐTB&XH huyện Đ;
- Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy;
- UBND xã Tân An, huyện Đ;
(đã ký)
- Người bị áp dụng Nguyễn Thành C;
- Lưu hồ sơ.
Lê Ngọc Bình